Bỏ qua nội dung

Chương 315: Đường Lui Bị Khóa - Vé Vào Thiên Lộc

Canh hai chưa hết khi Tạ Huyền trở lại Tế Mạch Đường. Cửa trước chỉ khép hờ, bên trong còn một ngọn đèn dầu nhỏ để cạnh giường A Mộc. Hắn vừa bước qua ngưỡng, Cố Dã đã mở mắt. Ánh nhìn của thiếu niên rơi xuống bàn tay trái đang thấm đỏ dưới lớp băng, rồi chuyển sang cây cán gỗ trong tay hắn. “Ngươi nói không đánh nhau.” Tạ Huyền ngồi xuống chiếc ghế thấp, chậm rãi tháo lớp vải ngoài đã dính máu. “Ta không đánh.” Cố Dã nhìn vết rách vừa bật miệng, mặt tối lại. “Vậy máu tự tìm tới?” “Người khác có dao.” Cố Dã nghẹn một nhịp, cuối cùng chỉ kéo hòm vải sạch lại gần. Hắn không hỏi thêm ngay, nhưng động tác đưa cuộn băng rõ ràng mạnh hơn cần thiết.

Tạ Huyền không để Cố Dã băng hộ. Tay phải của hắn gần như không dùng được, vì vậy việc quấn lại lòng bàn tay trái chậm hơn bình thường, nhưng vẫn còn làm được. Hắn kể ngắn gọn rằng cửa sau Kho Phế Số Bảy đã mở ở canh hai, người hẹn cần bài sơ tuyển gốc và nhắc tới tuyến phục kiểm khu đông. Những chuyện về lưỡi dao, dấu chuyển và đổi phiên hắn cũng không giấu Cố Dã, nhưng không suy diễn người đứng sau. Cố Dã nghe xong, lấy gói vải bọc bài gốc từ dưới đệm ngồi ra. “Nếu sáng mai bọn chúng lại muốn cướp?” “Ta tới nơi có sổ và người trực.” Tạ Huyền nhận lấy bài, kiểm tra mép, góc và dấu chìm dưới ánh đèn rồi mới cất vào lớp áo trong. “Nếu ở đó vẫn cướp được mà không ai phải ký tên, vậy con đường này vốn đã không đáng tin.”

Trước khi rời đi, hắn nhìn sang giường bên. A Mộc vẫn chưa tỉnh, hơi thở yếu nhưng đều hơn tiếng gió luồn qua khe cửa; Tạ Vân Chi tựa bên giường, mệt đến mức vừa tỉnh vừa ngủ. Không có chuyển biến nào đủ để gọi là tốt, cũng chưa có dấu hiệu xấu mới. Tạ Huyền không đánh thức nàng. Hắn chỉ để lại cho Cố Dã hai nửa bản chép bị cắt, dặn nếu quá trưa hắn chưa về thì giữ nguyên, không mang tới Kho Bảy. Sau đó hắn chống cán gỗ rời Tế Mạch Đường khi phía đông vừa nhạt màu.

Bàn phục kiểm khu đông nằm trong một dãy nhà thấp bên ngoài tường chính của Thiên Lộc Viện, nơi người dự tuyển, người giao vật và các quản sự ngoại viện đều có thể tới theo đường công khai. Tạ Huyền đến trước lúc đổi phiên một đoạn. Hắn không chen thẳng vào quầy mà đứng bên bảng quy trình đọc từ đầu đến cuối. Quy củ ghi rõ: hồ sơ bị đánh dấu đối chiếu phải tra bằng bài gốc; người nhận bài phải ghi số bài, giờ nhận và bàn trực; nếu phát sinh sai lệch giữa sổ và vật gốc, người dự tuyển có quyền yêu cầu lưu chứng trước khi chuyển sang phục kiểm trực tiếp. Không có dòng nào nói người dự tuyển phải giao bài cho một kẻ không tên ở cửa sau kho.

Khi tới lượt, Tạ Huyền đặt công phiếu đầu tiên lên quầy trước, không đặt bài gốc. Người trực là một nam nhân trung niên mắt còn ngái ngủ, tay đang lật sổ. “Việc gì?” “Ta bị tạm khóa đổi dược sau sơ tuyển. Muốn tra căn cứ của lệnh khóa và dấu chuyển.” “Số bài.” Tạ Huyền đọc số. Ngón tay người trực dừng ở một dòng gần cuối trang, rồi lật sang quyển sổ mỏng hơn bên cạnh. “Có đối chiếu. Đưa bài gốc.” Tạ Huyền lấy bài ra nhưng vẫn giữ trong tay. “Xin ghi người nhận và giờ nhận trước.” Nam nhân kia cau mày. “Bàn này ngày nào chẳng nhận trăm bài.” “Vậy càng nên có sổ.” Tạ Huyền đáp bình thản. Phía sau còn ba người đang chờ; một lão phụ bê hòm linh thảo đã bắt đầu nhìn sang. Người trực im lặng một chút, cuối cùng kéo tờ nhận, ghi số bài và đóng dấu bàn vào góc.

Có giấy nhận rồi, Tạ Huyền mới đặt bài lên tấm gỗ kiểm. Người trực dùng một thước đồng mỏng rà dọc cạnh, nhìn mặt cắt, rồi nghiêng bài dưới cửa sổ để kiểm tra dấu chìm. Động tác ban đầu rất nhanh, nhưng đến lần thứ hai thì chậm lại. Ông ta lật bài, dùng móng tay miết qua một vị trí sát góc phải, sau đó nhìn sang quyển sổ đối chiếu. “Bài này chưa qua ép lưu.” Tạ Huyền hỏi: “Ép lưu là gì?” “Bài thật có mặt cắt và dấu chìm của đợt sơ tuyển. Khi bị chuyển sang phục kiểm, bàn nhận phải ép thêm một vết nông ở cạnh sau khi đối chiếu vật gốc. Vết đó không có trên bài của ngươi.”

Tạ Huyền không nhìn bài ngay. Hắn nhìn dòng sổ trước mặt người trực. “Nhưng lệnh khóa đã có.” “Có dấu tạm.” Nam nhân trung niên đáp, giọng thấp hơn. Ông ta kéo quyển sổ mỏng lại gần. Dòng mang số bài của Tạ Huyền có một dấu chuyển ở cột cuối, đủ để treo quyền đổi dược, nhưng cột tiếp nhận vật gốc để trống. “Bình thường dấu tạm chỉ giữ đến hết phiên. Trước khi đổi phiên phải có bài thật tới đối chiếu, hoặc phải hủy dấu.” Tạ Huyền nhớ lại lưỡi dao thân đen và câu yêu cầu bài gốc ở cửa sau. Người kia không chỉ cần xác nhận hắn có bài. Nếu bài gốc được đưa tới trước giờ đổi phiên, một vết ép còn thiếu có thể được bổ vào, và chuỗi hồ sơ đang hở sẽ lập tức trông giống một quy trình hoàn chỉnh.

“Ai đặt dấu tạm?” Tạ Huyền hỏi. Người trực lắc đầu. “Trên dòng này không ghi tên, chỉ có dấu chuyển.” “Tra ngược được không?” “Trước đổi phiên thì được, nếu sổ nguồn còn mở.” Câu trả lời giống lời người cầm dao đến mức Tạ Huyền càng không vội tin. Hắn chỉ nói: “Vậy xin tra.” Nam nhân trung niên nhìn ra sân. Tiếng mõ báo đổi phiên còn chưa vang, nhưng người trực mới đã xuất hiện ở đầu hành lang. “Muộn rồi. Qua phiên mới xử.” “Ta tới trước đổi phiên, giấy nhận đã có giờ.” Tạ Huyền đẩy tờ nhận về phía ông ta. “Nếu qua phiên mới xử, xin ghi thêm rằng lúc nhận bài, cạnh không có ép lưu và cột tiếp nhận vật gốc đang trống.”

Sắc mặt người trực thay đổi rất khẽ. Chỉ một câu ghi vào sổ sẽ biến chuyện này từ lời tranh chấp thành dấu vết có người chịu trách nhiệm. Ông ta không phải người nhất định muốn hại Tạ Huyền; chính vì vậy, ông ta càng không muốn gánh một dòng hồ sơ không do mình tạo ra. Sau vài nhịp cân nhắc, ông ta gọi người trực mới lại, mở quyển sổ trước mặt cả hai rồi ghi chú cạnh dòng cũ: bài gốc đã xuất trình trước đổi phiên, không có ép lưu, chưa có mục tiếp nhận tương ứng. Khi nét bút cuối vừa dứt, tiếng mõ ngoài sân mới vang lên ba tiếng.

Người trực mới là một phụ nhân gầy, tóc búi cao, vừa ngồi xuống đã đọc lại toàn bộ dòng ghi chú. Nàng không tỏ vẻ thân thiện. “Ngươi muốn rút yêu cầu hay lưu chứng?” “Khác nhau thế nào?” “Rút thì bài trả ngay, dấu tạm theo sổ cũ chờ xử lý. Bao giờ mở khóa không ai bảo đảm. Lưu chứng thì dòng này bị khóa, không ai được bổ ép lưu vào bài theo phiên cũ. Nhưng từ lúc lưu chứng, ngươi phải đi phục kiểm trực tiếp trong buổi sáng. Không đến đúng hạn, xem như tự bỏ tư cách đối chiếu; hồ sơ dự tuyển bị treo.” Nàng đẩy một tờ giấy hẹp ra trước mặt hắn. “Chọn đi.”

Đó không phải phần thưởng. Tạ Huyền đã kéo mâu thuẫn ra ánh sáng, và quy củ lập tức khóa luôn đường lùi của hắn. Nếu rút, lệnh khóa dược vẫn treo trên đầu, còn kẻ đã đặt dấu tạm có thời gian tìm cách vá lại hồ sơ ở một phiên khác. Nếu lưu chứng, dấu cũ bị đóng lại nhưng hắn phải bước sâu hơn vào quy trình của Thiên Lộc Viện trong trạng thái tay trái rỉ máu, chân trái co cứng và không có tài nguyên mới để đổi. Hắn nhìn tờ giấy hẹp một lát rồi hỏi: “Bài gốc có rời khỏi tay ta không?” “Không. Ngươi mang bài cùng phiếu dẫn tới cửa Đông. Bàn trong sẽ kiểm lại dưới sổ mới.” “Vậy lưu chứng.”

Phụ nhân gầy đóng một dấu vuông lên tờ giấy. Bên trên hiện bốn chữ “Phiếu dẫn phục kiểm”, phía dưới ghi số bài, giờ lập và hạn phải tới trước giữa buổi. Nàng xé một nửa lưu vào sổ, nửa còn lại đưa cho Tạ Huyền. Công phiếu vẫn chưa đổi được dược; lệnh khóa cũng chưa được gỡ. Nhưng lần đầu tiên từ khi dấu tạm xuất hiện, hắn có một chứng từ công khai buộc hồ sơ phải đi theo một tuyến có giờ, có bàn và có người nhận. Tấm giấy mỏng ấy chưa phải tư cách nhập viện, càng không phải bảo đảm hắn sẽ được Thiên Lộc chấp nhận. Nhưng nó là một cánh cửa hợp pháp mở vào khu phục kiểm bên trong tường viện.

Tạ Huyền cất bài gốc và phiếu dẫn ở hai lớp áo khác nhau, rồi mới hỏi: “Dấu chuyển ban đầu tra được tới đâu?” Phụ nhân gầy không trả lời ngay. Nàng kéo quyển sổ nguồn của phiên cũ, đối mã dấu với một bảng gỗ treo bên cạnh. Ngón tay dừng ở hàng thứ tư, sau đó nàng nhíu mày. Người trực cũ cũng nhìn sang. “Có vấn đề?” Tạ Huyền hỏi. Phụ nhân đáp: “Mã này thuộc bàn Đông Tứ.” “Bàn đó ở đâu?” “Không ở đâu cả.” Nàng khép bảng lại. “Đông Tứ đã niêm ba ngày trước vì đổi chỗ lưu sổ. Từ ba ngày nay không được phép phát dấu chuyển mới.”

Ngoài hành lang, người chờ phục kiểm bắt đầu đông lên. Tạ Huyền không hỏi tiếp giữa quầy. Một dấu chuyển từ bàn đã niêm không thể tự xuất hiện trên hồ sơ hắn, cũng không thể tự khóa quyền đổi dược. Người trong hẻm đêm qua biết chính xác giờ đổi phiên, biết bài gốc thiếu thứ gì và còn có thể mở cửa sau Kho Bảy. Bây giờ hắn biết thêm một chuyện: kẻ đó không chỉ chen tay vào quy trình hiện tại, mà còn đang dùng dấu của một mắt xích lẽ ra đã chết trên sổ. Tạ Huyền chống cán gỗ đứng dậy. Mỗi bước về phía cửa Đông đều kéo đau dọc đầu gối trái, nhưng hắn không quay lại. Đường lui vừa bị chính lựa chọn của hắn khóa lại; còn trong tay, tờ phiếu dẫn mỏng như một mảnh giấy vụn lại là tấm vé đầu tiên đưa hắn bước qua cánh cửa công khai của Thiên Lộc Viện.