Chương 71 - Chương 71: Đêm Trước Đại Thẩm
Chốt cửa phòng khóa vừa hạ xuống, tiếng bánh xe ngoài sân cũng vọng về qua hai lớp tường. A Tịch nằm nghiêng trên tấm phản thấp, nghe trục gỗ lăn chậm rồi dừng ở phía trực đường. Đó là chiếc xe thuốc đã ra cổng phụ từ canh năm. Nó trở về khi trời đã tối, muộn hơn lệ thường gần nửa canh giờ, nhưng không có tiếng quát bắt người, cũng không có tiếng xích kéo thêm một phạm nhân nào vào sân.
Nàng không nhìn thấy gì ngoài vệt sáng mỏng dưới chân cửa. Sau chuyến đi tới cổng phụ, cơn sốt lại dâng, từng nhịp tim đập vào lớp cao quanh sườn như có người gõ từ bên trong. Nữ y quan của Ty Lễ đã thay lớp vải ngoài, vẫn không dám bóc phần cao cũ vì vết thương có thể bật miệng. Bản lời khai gốc của Tần Quý phi vì thế còn nằm sát da nàng, khô, cứng và nặng hơn bất cứ vật gì nàng từng giấu trong tay áo.
Giang Nhược bị giữ ở gian bên kia. Hai phòng vốn là kho dược cũ, sau này ngăn lại để tạm giam người cần thẩm tra; giữa vách còn một khe dẫn khói dùng khi xông phòng chống ẩm. Khe hẹp đến mức chỉ lọt hai ngón tay, bị che bên ngoài bằng một miếng đồng đục lỗ. A Tịch biết Giang Nhược ở đó vì mỗi khi người bên kia trở mình, chiếc vòng đồng buộc nơi cổ tay bị thương lại chạm thành phản rất khẽ.
Trước khi đêm xuống hẳn, một thư lại Ty Lễ đem vào hai tờ vấn mục cho đại thẩm. Câu hỏi được viết theo lối tưởng như vô hại: A Tịch gặp Giang Nhược lần đầu ở đâu, ai biết nàng còn sống, ai giữ thuốc, ai chạm vào bệnh án, ai đề nghị tìm Tạ Uyển Nghi. Nhưng thứ tự các câu cố ý tách mọi hành động thành những phần riêng, chỉ cần một người nhớ lệch một khắc hoặc dùng khác một chữ, lời khai của cả hai sẽ bị quy thành thông đồng.
Thư lại không giấu việc vấn mục do Phượng Nghi điện gửi sang. Ông đặt bút cạnh tờ giấy, nói rằng đại thẩm đã được dời lên ngay sau tiếng trống thứ nhất sáng mai, sớm hơn nửa buổi so với lệnh ban đầu. Hoàng hậu sẽ ngồi sau rèm, Ty Lễ chủ trì hỏi, Nội đình đối chứng, còn những người liên quan bị gọi riêng từng lượt. Bạch Đào và dược nô vẫn ở phòng khóa chung canh, nhưng chưa chắc được đưa ra trước khi A Tịch cùng Giang Nhược khai xong.
A Tịch nghe đến đó liền hiểu vì sao xe thuốc vừa trở về, lệnh đại thẩm đã lập tức đổi giờ. Người ngoài bãi tiêu dược có thể không bị bắt, song chuyến xe chắc chắn đã khiến một đầu dây động. Hoàng hậu không cần xóa sạch mọi dấu trong một đêm; bà chỉ cần buộc hai người khai riêng trước khi Ty Lễ kịp đưa thêm vật chứng hoặc nhân chứng vào mạch án.
Quả nhiên, chưa đầy một khắc sau, viên quan Ty Lễ từng giữ chuỗi niêm tới trực tiếp. Ông đứng ngoài cửa, không bước vào, đọc ngắn gọn kết quả đầu ngoài để thư lại ghi cùng lúc. Xe số bốn đã tới bãi tiêu dược đúng tuyến, nhưng người giữ dấu nhận thường lệ không xuất hiện. Một lệnh điều chuyển mang dấu Nội đình đã tới bãi vào cuối canh năm, sau khi việc khám xe trong cung bắt đầu, đưa người ấy sang kho vôi phía tây; người thay thế được ghi tên nhưng chưa từng đến nhận việc.
Toán chờ ngoài cung không tìm được người trong hòm hay chứng thư bí mật. Họ chỉ thấy cửa căn nhà nhỏ phía sau bãi vừa thay khóa, nền đất cạnh máng rửa có hai vệt kéo mới dẫn tới đường xe ngoài thành, rồi bị dấu bánh và người qua lại xóa lẫn. Vì lệnh mới của Nội đình cấm mở rộng xét hỏi ngoài phạm vi chuyến xe, Ty Lễ chỉ kịp niêm ổ khóa, sao lại lệnh điều chuyển và đưa xe trở về. Dấu nhận cuối phiếu do chính người Ty Lễ đóng tạm, nên chuyến đi hợp lệ về số hòm nhưng vẫn thiếu người nhận thường lệ.
Đó không phải bằng chứng đủ để nói Tạ Uyển Nghi đã qua bãi tiêu dược. Nó chỉ chứng minh có người biết cuộc kiểm tra trong cung gần như ngay khi nó xảy ra và đã rút mắt xích ở đầu ngoài trước khi xe tới. A Tịch hỏi thời điểm lệnh điều chuyển được ghi. Viên quan đáp: cuối canh năm, cách lúc cổng phụ mở chưa đầy một tuần hương.
Khi mọi người rời đi, A Tịch nhìn lại vấn mục. Nàng nhớ rõ từng giờ và từng vật chứng, nhưng Giang Nhược không biết hết những lần nàng tự ý hành động. Nếu cố làm lời khai giống nhau, họ sẽ mắc tội thông đồng; nếu khai đúng, Hoàng hậu sẽ dùng chính những phần lệch ấy để kéo nữ thái y vào án.
Một tiếng gõ rất nhẹ vang lên trong vách: hai nhịp, dừng, rồi một nhịp. Đó là cách Giang Nhược từng gõ lên nắp hộp thuốc để báo thuốc chưa đủ liều. A Tịch kéo người sát miếng đồng, cơn đau chạy dọc sườn khiến trán nàng lạnh toát. Nàng đáp lại một nhịp dài, đủ cho người bên kia biết nàng còn tỉnh.
“Ta nghe kết quả xe rồi,” Giang Nhược nói qua khe khói. Giọng nàng thấp, hơi khàn vì cả ngày không được uống đủ nước. “Người giữ dấu bị đổi sau khi xe mở cổng. Tin đi nhanh hơn bánh xe.” A Tịch khẽ đáp: “Trong cung vẫn còn người truyền lời. Hoặc lệnh siết cổng vốn đã kèm đường rút ở đầu ngoài.”
“Sáng mai họ sẽ hỏi riêng.” Giang Nhược nói. “Nàng đừng đoán lời ta. Cứ nói đúng phần nàng biết.” “Như vậy họ sẽ dùng những việc ta giấu nàng để buộc nàng thành đồng phạm sau khi biết chuyện.” “Ta đã là người liên quan từ lúc không tố giác nàng trong kho thuốc.” Giang Nhược dừng một chút. “Đừng lại biến lựa chọn của ta thành lỗi của nàng.”
Câu nói ấy chạm đúng nơi A Tịch vẫn cố giấu. Nàng quen nhận mọi vết thương như món nợ của mình: Tố Liên chết vì nàng không cứu kịp, Bạch Đào bị bắt vì mang chứng cứ, Giang Nhược bị thương vì đã đứng lại. Nhưng Giang Nhược không cho nàng quyền gọi lựa chọn của người khác là sai lầm cần sửa.
A Tịch đặt hai ngón tay lên những lỗ nhỏ của miếng đồng. Bên kia, đầu ngón tay Giang Nhược cũng chạm tới, không thể nắm, chỉ đủ cảm thấy hơi ấm rất mờ qua kim loại lạnh. “Ta không muốn nàng chết cùng ta,” A Tịch nói. “Ta cũng không muốn nàng vì ta mà mất bàn tay, mất tên trong Thái Y viện, mất đường ra ngoài.” “Còn nàng thì được phép mất hết sao?”
A Tịch im lặng. Ngoài hành lang, thị vệ đổi chân, giáp da cọ vào nhau một tiếng khô. Nàng biết mọi lời quá lớn đều có thể bị nghe thấy, nhưng có những điều nếu còn tiếp tục giấu, sáng mai có lẽ không còn cơ hội nói nữa. “Ta từng nghĩ người đã ghi tên chết thì không nên cầu ai ở lại. Khi ta bảo nàng đi theo xe thuốc, ta không phải không muốn đi cùng. Chính vì muốn nên ta mới sợ.”
Bên kia vách im lặng một lúc rồi Giang Nhược nói: “Ta ở lại không phải vì thương hại, cũng không chỉ vì đơn thuốc hay lời khai của Tố Liên. Ta muốn khi ra khỏi tường đỏ, người đi bên cạnh ta là nàng. Ta muốn sáng mở cửa y quán, biết người nhóm bếp trong sân vẫn còn đó. Nếu phải nói rõ mới khiến nàng thôi tự quyết thay ta, thì đó là điều ta muốn.”
A Tịch cúi đầu, trán chạm lên tường. Trong tưởng tượng của nàng, tự do trước nay chỉ là một cánh cổng mở đủ rộng, một đoạn đường không có lính canh, một cái tên không nằm trong sổ chết. Lần đầu tiên, tự do có thêm tiếng chày giã thuốc buổi sớm, mùi cơm mới và một người biết nàng đang ở đâu. Cảnh ấy bình thường đến mức làm ngực nàng đau hơn cả vết thương.
“Ta cũng muốn,” nàng nói. Ba chữ rất nhỏ, nhưng không còn đường rút. “Không phải chỉ muốn nàng sống. Ta muốn sống cùng nàng.” Ngón tay bên kia miếng đồng siết lại. Giang Nhược không nói lời hứa lớn, chỉ đáp: “Vậy sáng mai đừng bỏ ta lại trong lời khai của nàng.”
A Tịch nhắm mắt. “Được.” Nàng nói dối bằng giọng bình tĩnh nhất của mình.
Gần nửa đêm, người Ty Lễ trở lại thu vấn mục. Giang Nhược chỉ ghi nàng sẽ trả lời theo bệnh án, đơn thuốc và các ca trực có thể kiểm chứng. A Tịch cũng không điền vào những ô đã sắp sẵn; nàng xin một tờ giấy khác để ghi trước tình trạng vết thương, phòng khi sáng mai sốt mê man. Thư lại để lại bút và nghiên nhỏ dưới sự giám sát của nữ quan trực.
Sau khi cửa khép, A Tịch viết một bản nhận tội ngắn: thân phận giả, việc đột nhập Ty Dược, giữ bệnh án, lấy bản sao, dẫn Bạch Đào truyền tin và ép Giang Nhược im lặng đều do nàng chủ ý. Giang Nhược chỉ chữa thương và bị lợi dụng kiến thức về thuốc. Nếu bản gốc được giao mà nhân chứng chưa tới, nàng xin Ty Lễ tách nữ thái y khỏi tội đồng mưu và xử riêng mình.
Nàng biết một tờ nhận tội không chắc cứu được Giang Nhược. Hoàng hậu có thể vẫn giữ người vì đã che giấu, Ty Lễ cũng không dễ bỏ qua những lần nữ thái y tham gia kiểm nghiệm. Nhưng bản giấy sẽ tạo ra một mạch lời khai khác, buộc mọi cáo buộc đối với Giang Nhược phải chứng minh bằng hành động cụ thể thay vì chỉ dựa vào quan hệ giữa hai người. Đó là thứ duy nhất A Tịch còn có thể chuẩn bị trong đêm mà không làm lộ bản gốc dưới lớp cao.
A Tịch hong mực bên ngọn đèn rồi gấp tờ giấy thành bốn, giấu vào lớp lót tay áo. Nàng không kể cho Giang Nhược. Qua khe khói, bên kia đã yên, chỉ còn hơi thở không đều của người đang cố ngủ cùng bàn tay đau. A Tịch đưa tay chạm miếng đồng lần cuối, tưởng tượng đầu ngón tay kia vẫn ở đó.
Ngoài sân, tiếng trống báo hết canh tư vang lên. Một nữ quan truyền lệnh chuẩn bị áp giải từng phạm nhân tới đại thẩm trước tiếng trống thứ nhất. A Tịch ngồi dậy, chạm lớp băng chứa lời khai gốc rồi chạm tờ nhận tội trong tay áo. Nếu nhân chứng cuối cùng không xuất hiện, nàng sẽ giao sự thật và nhận hết phần tội có thể nhận, đổi lấy một đường sống cho Giang Nhược. Lời hứa qua bức vách còn ấm, nhưng nàng đã quyết định tự mình phá nó trước khi trời sáng.
