Chương 3: Một khu phố không nằm trên bảng tính
Sáng hôm sau, bước qua cổng khu thương mại Tân Phúc, Minh Thành vẫn nhớ câu Hà An nói ở cuối phòng họp. Anh không đến đây để tiếp tục chuyện đó. Buổi khảo sát có mục tiêu rõ hơn: xem những giả định Thành Nam đang đặt vào mô hình có sống được ngoài trang giấy hay không.
Bảy giờ hơn, khu chợ cũ đã ồn đến mức mọi lời trao đổi đều phải nhích cao hơn một chút. Xe máy dừng sát mép đường, người mua chen qua những sạp rau vừa mở, các xe đẩy chở thùng hàng lách giữa hai dãy quầy. Trên bản đồ Hoài Nam đang cầm, khu này chỉ là một cụm hình chữ nhật được chia ô gọn gàng, hai lối tiếp cận và một khoảng trống dành cho giao nhận.
Hoài Nam đưa máy tính bảng lên ngang ngực, đối chiếu vị trí. “Theo hồ sơ, mình đi từ dãy phía đông, vòng qua khối chợ rồi sang khu kho. Nếu chỉ kiểm kích thước và luồng chính thì hơn một tiếng là xong.”
Minh Thành nhìn một người đàn ông đang đẩy ba sọt hàng qua khe hẹp giữa quầy giày và hàng đồ khô. Phía sau ông còn hai xe máy chờ nhích từng đoạn. “Đừng chỉ kiểm luồng chính. Ghi cả nơi hàng thật sự đi qua.”
Hoài Nam gật đầu, đổi sang trang ghi chú. Chỉ sau chưa đầy mười phút, những dấu đánh dấu đã xuất hiện nhiều hơn dự kiến.
Dưới mái hiên kéo dài ở mép dãy cửa hàng, có một hàng quầy nhỏ không hiện trên sơ đồ vận hành anh đã nhận. Chúng không giống những bàn bán phát sinh trong buổi sáng rồi dọn đi. Có quầy có biển tên, tủ kính, ổ điện kéo cố định; một người bán đang mở khóa tấm cửa cuốn thấp phía sau. Hoài Nam phóng to bản đồ hai lần, rồi mở danh sách kèm theo.
“Em không thấy mã quầy ở đoạn này.” Cậu chỉ vào màn hình. “Có thể là điểm bán tạm.”
“Có thể.” Minh Thành không bước tiếp. “Nhưng mình chưa biết.”
“Tách hai việc ra. Thực địa có quầy đang hoạt động là một dữ kiện. Tư cách của quầy là chuyện phải đối chiếu hồ sơ.” Anh chỉ vào hàng quầy trước mặt. “Ghi lại vị trí, loại hàng, thời điểm quan sát. Đừng biến chữ ‘không có trong danh sách’ thành ‘không tồn tại’.”
Cậu chuyên viên im một nhịp rồi tạo thêm một cột. Minh Thành thấy tên cột hiện lên: quan sát thực địa — chờ đối chiếu. Anh không sửa.
Ở đầu dãy bên kia, Hà An và Mai Linh cũng vừa tới. Mai Linh dừng ở chỗ xe hàng đang xuống thùng, chụp ảnh mặt bằng rồi ghi giờ. Hà An đứng cạnh một quầy đồ gia dụng, nói chuyện với người bán lâu hơn thời gian cần để hỏi kích thước hay giờ mở cửa.
Minh Thành chỉ bắt được vài câu khi đi ngang. Hà An hỏi người bán thường nhận hàng lúc nào, ai giao, nếu phải nghỉ một tháng thì khách quen có sang điểm tạm hay tìm chỗ khác. Sau đó cô hỏi cả người đang phụ sắp hàng, không mặc nhiên coi câu trả lời của chủ quầy là câu trả lời của mọi người dùng mặt bằng.
Mai Linh quay sang một người chở hàng: “Anh vào bằng lối này mỗi ngày à, hay tùy giờ?”
Người kia chỉ về phía sau chợ. “Sáng sớm đi đường sau nhanh hơn. Trễ chút là phải vòng, trong này đông không kéo xe lớn được.”
Hà An ghi vào cuốn sổ mỏng. Cô không nhìn sang Minh Thành, cũng không có dấu hiệu muốn nối lại câu chuyện hôm qua. Sự đề phòng trong anh vì thế mất dần chỗ đứng trước một cảm giác khó chịu khác, quen thuộc hơn với công việc: tò mò. Lam Viên không chỉ đo mặt bằng. Họ đang đo cách nơi này được sử dụng.
Nếu những câu trả lời ấy đủ phổ biến, phương án đóng một vùng trong vài tuần sẽ không chỉ là cộng số ngày ngừng kinh doanh. Khách có thể đổi thói quen, người giao hàng đổi tuyến, còn những quầy tưởng không liên quan trên bản đồ lại dùng chung lối hoặc điểm tập kết.
Người đàn ông đứng cạnh cột biển cũ khoảng ngoài năm mươi, da sạm, áo sơ mi xắn tay. Ông tự giới thiệu là Nguyễn Văn Nghiêm, đại diện nhóm tiểu thương lâu năm. Ông chỉ hỏi hai việc: các đội đến để đo hiện trạng hay đã có lịch đóng từng khu, và thông tin người bán cung cấp có được ghi nhận chính thức hay không.
Minh Thành trả lời phần của Thành Nam trước. “Hôm nay chúng tôi kiểm hiện trạng để xây phương án. Lịch đóng khu chưa được khóa. Những gì liên quan dữ liệu chính thức sẽ phải đối chiếu với Ban điều phối và hồ sơ Tân Phúc.”
Nghiêm gật đầu. “Nói vậy thì được. Tôi chỉ ngại các anh nhìn bản đồ rồi tưởng chỗ trống trên đó là chỗ trống ngoài này.”
Ông đưa tay chỉ về mấy quầy dưới mái hiên mà Hoài Nam vừa đánh dấu. “Mấy chỗ đó trên danh sách các anh có không?”
“Chưa.” Minh Thành đáp.
Nghiêm không nói thêm ngay. Ông liếc sang màn hình trong tay Hoài Nam. “Thường là không. Nhưng người ta vẫn bán ở đó. Chuyện họ được xếp loại thế nào thì các anh hỏi hồ sơ. Còn nếu muốn biết có đóng phí quản lý hay không, tôi có chứng từ.”
Minh Thành không hỏi ông đưa ngay. Một tập giấy do đại diện tiểu thương mang tới giữa buổi khảo sát có thể là nguồn để mở câu hỏi, chưa phải cơ sở để Thành Nam tự kết luận. “Nếu bác đồng ý, hôm làm việc có biên bản bác mang theo bản sao. Bên cháu sẽ đề nghị Ban điều phối nhận và đối chiếu cùng danh sách chính thức.”
Nghiêm nhìn anh thêm một giây, như cân xem đó là cách né hay cách làm thật. “Được. Tôi mang.”
Hà An đứng cách đó vài bước. Cô không chen vào câu trả lời của Minh Thành. Chỉ khi Nghiêm quay sang, cô mới hỏi riêng ông về các nhóm sử dụng dãy phía đông: quầy mở cả ngày, quầy chỉ bán buổi sáng, người làm thuê và người giao hàng có cùng phụ thuộc vào giờ hoạt động hay không. Nghiêm trả lời từng phần, nhiều lần nhắc rằng mỗi nhóm có nhu cầu khác nhau.
Minh Thành nghe đủ để nhận ra điều mô hình ban đầu chưa buộc phải thể hiện: ‘một quầy’ không đồng nghĩa ‘một người’. Một lần đóng cửa có thể chạm tới chủ quầy, người bán thuê, người giao hàng và các điểm bán dùng chung luồng khách. Không phải mọi tác động đều thành nghĩa vụ tài chính, nhưng bỏ chúng khỏi vận hành vẫn có thể làm lịch thi công sai.
Nghiêm dẫn cả nhóm vòng ra phía sau khối chợ. Không gian ở đây hẹp hơn Minh Thành hình dung từ sơ đồ. Một xe tải nhỏ dừng ngoài mép, hàng được chuyển xuống thành nhiều chuyến bằng xe đẩy. Cách đó vài chục mét, một nhóm khác nhận thùng hàng từ xe máy rồi đưa vào cửa sau của dãy cửa hàng. Các luồng giao nhận tách ra, nhập lại, đổi hướng tùy lúc lối giữa chợ đông người.
Hoài Nam nhìn bản đồ. “Mô hình nền đang gom giao nhận về khu kho. Nếu chia giai đoạn thi công như Lam Viên, họ cũng sẽ phải giữ mấy đường này.”
“Ừ.” Minh Thành bước tránh một xe đẩy vừa trờ tới. “Và nếu mình đóng tập trung, phải biết lượng hàng nào cần đi đâu trước khi nói thời gian gián đoạn ngắn.”
Hôm qua anh đã phản biện rằng phương án duy trì hoạt động phải trả đủ chi phí cho việc duy trì ấy. Điều đó vẫn đúng. Nhưng hiện trường đang thêm nửa còn lại vào phép tính: phương án đóng nhanh cũng chỉ rẻ nếu những thứ bị dừng thật sự có thể dừng theo cách mô hình giả định.
Mai Linh ở phía trước đang ghi giờ một lượt giao hàng khác. Hà An cúi xem lối xe đẩy, hỏi Nghiêm đoạn nào thường bị nghẽn nhất. Minh Thành không biết cô rút ra kết luận gì, và anh không cần đoán. Thành Nam có đủ vấn đề của mình để kiểm tra.
Khi cả nhóm trở lại dãy phía đông, Hoài Nam đã có một danh sách ghi chú dài. Cậu kéo Minh Thành sang bên để tránh dòng người rồi hạ giọng. “Nếu các quầy ngoài danh sách chưa có tư cách rõ, mình có cần đưa vào mô hình ngay không? Nếu đưa hết từ đầu, số liệu sẽ phình mà chưa chắc được chấp nhận.”
Đó là câu hỏi hợp lý. Cũng là loại câu hỏi Minh Thành từng dễ trả lời hơn: chưa được công nhận thì để ngoài kịch bản chính, chờ lúc cần mới bổ sung. Một bảng tính luôn sạch hơn khi chỉ chứa những thứ đã có mã.
Anh nhìn lại hàng quầy dưới mái hiên. Một người phụ nữ đang đưa tiền lẻ cho khách, phía sau cô là những thùng hàng mới dỡ. Cảnh đó không chứng minh cô có quyền gì trong dự án. Nhưng nó chứng minh một việc đơn giản hơn: nếu ngày mai lối này bị chặn, sẽ có người bị ảnh hưởng dù ô tương ứng trên bản đồ đang để trống.
“Chưa đưa họ vào nghĩa vụ hay chi phí chính thức.” Minh Thành chỉ vào phần ghi chú của Hoài Nam. “Nhưng lập bảng đối chiếu riêng. Danh sách chính thức một cột, quầy quan sát được một cột, vị trí, loại hoạt động, luồng giao nhận, nguồn xác nhận. Phần tư cách để trống cho tới khi có hồ sơ.”
Hoài Nam gật đầu. “Tức là giữ chênh lệch như một giả định cần kiểm chứng.”
“Không.” Minh Thành sửa ngay. “Chênh lệch là thứ mình đã quan sát. Nguyên nhân và hệ quả pháp lý mới là phần cần kiểm chứng.”
Buổi khảo sát kéo dài hơn dự tính. Cứ đi thêm một đoạn, bản đồ lại mất đi một chút vẻ chắc chắn: lối dành cho khách cũng chuyển hàng vào giờ vắng; khoảng phụ trợ có người ngồi sửa đồ từ sáng; dãy quầy không có mã vẫn tạo ra dòng người đủ rõ để kế hoạch rào chắn phải tính tới.
Khi rời khu chợ cũ, Hà An và Mai Linh còn đứng lại với Nghiêm ở đầu dãy. Minh Thành không chờ. Anh cùng Hoài Nam dừng dưới bóng mái che phía ngoài, nơi tiếng chợ lùi xuống vừa đủ để xem lại ghi chú.
Trên màn hình, Tân Phúc vẫn là những khối màu ngay ngắn. Hoài Nam đã thêm các dấu nhỏ ở những vị trí chưa khớp, mỗi dấu kèm một hàng dữ liệu đang chờ nguồn. Chỉ vài chục mét trước mặt, dãy quầy vẫn đông người, xe hàng vẫn phải nhích từng đoạn qua lối hẹp, không có gì biết mình đang nằm ngoài một ô nào đó.
Minh Thành nhìn bản đồ trên máy rồi nhìn dãy quầy đông người: số liệu đầu tiên của Tân Phúc đã không đứng yên như trên trang giấy.
