Chương 21 - Chương 21: Lá Thư Từ Bến Nam
Chương 21: Lá Thư Từ Bến Nam
Ống thư bọc dầu được đưa vào tộc đường bằng hai tay run rẩy. Nước sông theo mép áo tơi của gia đinh nhỏ xuống nền gạch, từng giọt từng giọt, lạnh hơn cả mùi hương trầm vừa tàn. Không ai bảo hắn đứng dậy. Trong Lục gia, tin xấu thường được nghe khi người đưa tin quỳ; như thể chỉ cần đầu gối của một kẻ thấp hèn chạm đất, tai họa cũng sẽ bị ép thấp xuống theo. Nhưng ta nhìn mép giấy nhăn vì nước mà biết, lần này tai họa không thấp. Nó theo đường sông đến, mang theo mùi bùn, mùi hàng mục và mùi của những con số bị ai đó cố ý làm lệch.
Lục Sùng không lập tức mở thư. Ông nhìn gia đinh kia: “Ai sai ngươi đưa tin?” Gia đinh dập đầu một cái: “Bẩm gia chủ, là Đinh áp thuyền của thương đội số ba. Hắn không dám rời bến, chỉ sai tiểu nhân cưỡi ngựa về trước. Hắn nói nếu thư tới chậm hơn giờ Dần, bên bến có thể có người chết nữa.” Hai chữ “nữa” rơi xuống, sắc mặt mấy trưởng bối vừa rồi còn bận tranh phần thưởng khảo hạch lập tức đổi khác. Một cái xác trong Kho Tây đã đủ làm tộc đường lạnh đi; nếu Bến Nam lại có người chết, Lục gia đêm nay không phải cháy một kho, mà là cháy cả tuyến vận lương.
Tần tiên sinh nhận ống thư từ gia đinh, lau lớp dầu bên ngoài rồi trình lên Lục Sùng. Dấu buộc là dây gai nhuộm đen, thắt kiểu nút kép của thương đội Lục gia. Ta nhìn sợi dây ấy, đầu lưỡi còn vị cam thảo mà cổ họng lại khô hơn trước. Đoạn dây gai đen ở Kho Tây vừa mới được ghi vào vật chứng, giờ Bến Nam lại gửi về một sợi cùng màu. Tất nhiên, dây gai trong thương đội vốn không hiếm; nếu chỉ vì cùng màu mà kết luận có liên quan, ta ở hiện đại chắc sẽ bị cấp dưới âm thầm chê là quản lý mê tín. Nhưng trong một đêm có quá nhiều trùng hợp, điều cần làm không phải tin, cũng không phải phủ nhận, mà là ghi lại trước khi người khác kịp bảo “chuyện nhỏ”.
Lục Sùng mở thư. Ông đọc rất chậm, nếp nhăn nơi khóe mắt hằn xuống như dao khắc trên gỗ cũ. Tộc đường yên đến mức ta nghe rõ tiếng tay áo Lục Thừa Viễn cọ qua thành ghế. Một lúc sau, tổ phụ đặt thư xuống, không đưa cho ai ngay, chỉ nói: “Thương đội số ba chở ba loại hàng: lương khô của Lục gia, vải thô đưa sang huyện Đông Bình, và dược liệu ký gửi của Tạ gia. Đêm qua thuyền cập Bến Nam vì nước lớn. Sáng nay kiểm hàng, ba kiện dược liệu Tạ gia bị tráo thành rễ lau phơi khô, hai kiện lương khô mất dấu niêm. Người giữ sổ tuyến là Chu Mậu biến mất. Trên bờ có vết máu.”
Không cần ai nhắc, mọi ánh mắt đều vô thức dời về phía cửa hông, nơi Vân Chi bị chặn lại ngoài tộc đường. Nàng không đứng trong này, nhưng hai chữ Tạ gia vẫn như một ngọn đèn bị gió thổi, chao qua mặt từng người. Một trưởng bối đại phòng lập tức cau mày: “Dược liệu Tạ gia ký gửi, vì sao Lục gia phải chịu trách nhiệm? Thương đội đã nhận hàng thế nào thì giao thế ấy, nếu Tạ gia tự đưa hàng không sạch, chẳng lẽ chúng ta cũng phải gánh?” Lời vừa nói ra đã rất khéo. Ông không mắng Tạ gia bán thuốc giả, chỉ đặt chữ “không sạch” xuống trước. Những chữ kiểu ấy giống tro bếp, nhìn nhẹ, phủ lên người lại khó rửa.
Một người khác bên nhị phòng cười lạnh: “Đại phòng quản thương đội số ba đã lâu, giờ mất sổ tuyến, mất hàng, lại muốn đẩy sang Tạ gia, e hơi vội.” Đại phòng lập tức phản bác: “Thương đội số ba đi tuyến Bến Nam, nhưng tiền điều xe, bến phí và người áp thuyền tháng này đều qua tay nhị phòng. Chu Mậu là người do ai tiến cử, trong tộc đường này không phải không ai nhớ.” Mấy câu qua lại, vụ mất hàng chưa tìm ra đầu dây, các phòng đã vội tìm dây để trói cổ nhau. Ta bỗng thấy chiến thắng vừa rồi của mình ở kỳ khảo hạch nhỏ đến đáng thương. Trong nhà này, sổ phụ chỉ là một chiếc chìa khóa. Ngoài bến, người ta đã đổi cả ổ khóa.
Lục Thừa Viễn đặt chén trà xuống, giọng vẫn ôn hòa: “Phụ thân, việc này nên giao cho người lớn xử lý. Kho Tây vừa xảy ra án mạng, Hoài Tranh lại mới được quyền đọc sổ phụ. Nếu lúc này kéo nó vào thương đội, bên ngoài sẽ nói Lục gia để một đứa trẻ nhúng tay vào hai vụ rối ren liên tiếp. Chi bằng khóa tạm thư này, sai quản sự thương đội và người Tạ gia cùng đối chất, tránh làm lớn.” Ông nói “tránh làm lớn” rất dễ nghe. Nhưng có những chuyện vốn đã lớn; thứ người ta gọi là tránh làm lớn, thường chỉ là tránh để người không nên biết biết quá sớm.
Ta chưa nói ngay. Cổ họng vẫn rát, đầu gối còn đau, lưng sau vụ cháy như bị ai nhét một thanh gỗ ẩm vào xương. Ta chỉ ngẩng nhìn bức hoành trên tộc đường. Mấy chữ tổ huấn treo cao, mực vàng đã sậm màu vì năm tháng: giữ tín, giữ sổ, giữ người. Nếu tổ tiên Lục gia thật sự nghe được, hẳn đêm nay sẽ rất bận; đứa nào trong đám con cháu cũng đang mượn tên họ để giữ phần lợi của mình, còn sổ và người thì thi nhau biến mất.
Tần tiên sinh bỗng hỏi gia đinh: “Đinh áp thuyền có nói dược liệu bị tráo là loại gì không?” Gia đinh nuốt nước bọt: “Có, có nói là cam thảo, bạch chỉ và hoàng kỳ. Hắn bảo dược liệu đều đóng dấu Tạ gia, nhưng mở ra thì mùi không đúng. Có một túi bị rách, trong đó lẫn giấy gói thuốc cũ, trên giấy còn chữ của y quán khác.” Cam thảo. Ta cúi mắt nhìn tay áo mình. Hai lát cam thảo Vân Chi vừa đưa còn lại một lát, nằm yên trong gói giấy nhỏ. Nàng cho ta ngậm thứ thật để giữ giọng, còn ngoài bến người ta dùng thứ giả để làm bẩn tên Tạ gia. Cách hại người này không sắc như dao, nhưng độc hơn dao. Dao đâm một người, thuốc giả có thể đâm cả một nhà.
Ngoài cửa hông có tiếng động rất nhỏ. Ta quay đầu, thấy Vân Chi đứng dưới mái hiên, bị gia nhân chắn lại, nhưng ánh mắt nàng đã nghe đủ. Nàng không khóc, cũng không hoảng. Chỉ khi nghe ba chữ cam thảo giả, bàn tay nàng siết chặt mép tay áo. Người khác có thể không hiểu cam thảo khác rễ lau ở đâu, nhưng nàng lớn lên trong y quán, chắc chắn hiểu một vị thuốc bị tráo có thể biến cứu người thành hại người. Nàng nhìn ta một cái. Không cầu cứu, không trách móc, chỉ giống lần ở từ đường nàng gọi ta là người còn sống: vừa bướng, vừa sáng, vừa không chịu để người khác quyết định thay mình.
Ta bước ra khỏi hàng thiếu niên nửa bước. Lục Thanh Hành liếc ta, thấp giọng: “Ngươi lại muốn chen vào?” Ta cũng thấp giọng đáp: “Không chen thì để bọn họ chen ta vào làm tấm bia à?” Hắn nghẹn một chút, lần này hiếm khi không mắng. Có lẽ sau khi thừa nhận thua vì số liệu, hắn bắt đầu phát hiện thế giới người lớn không đẹp như bài văn gia học. Số liệu ít nhất còn biết đúng sai; người lớn thì có thể dùng cùng một câu đạo lý để nói ra ba loại mục đích khác nhau.
Ta hành lễ với Lục Sùng: “Tổ phụ, tôn nhi có một câu.” Lục Sùng nhìn ta, chưa gật cũng chưa ngăn. Ta coi như ông cho phép, dù trong Lục gia, im lặng đôi khi là cửa, đôi khi là hố. “Tin Bến Nam không nên khóa tạm. Thư đã vào tộc đường, nhiều người đã nghe. Nếu khóa lại, sáng mai tin bên ngoài truyền trước, Lục gia sẽ thành kẻ che giấu. Dược liệu Tạ gia bị tráo trong thương đội Lục gia, dù hàng do ai ký gửi, trách nhiệm kiểm nhận vẫn có phần của chúng ta. Người giữ sổ tuyến biến mất, trên bờ có máu, nếu chỉ gọi các phòng đối chất trong nhà, người có thể chạy sẽ chạy, chứng cứ có thể ướt sẽ ướt, người còn sống cũng có thể biến thành người chết.”
Một vị trưởng bối lạnh mặt: “Ngươi vừa được đọc sổ phụ đã muốn quản thương đội? Trẻ con mới thắng một kỳ khảo hạch, lòng lớn thật.” Ta đáp: “Con không muốn quản thương đội. Con chỉ muốn xem ba thứ: bản nhận hàng khi thuyền rời kho, danh sách người lên thuyền, và dấu niêm trên kiện hàng còn lại. Ba thứ ấy không cần quyền quản thương đội, chỉ cần mắt chưa mù và tay biết ghi.” Trong tộc đường có người khụ một tiếng. Ta cúi đầu rất đúng lúc: “Tôn nhi lỡ lời. Ý con là, việc này nên nhìn vật trước, hỏi người sau. Nếu hỏi trước, người nói dối sẽ có thời gian học thuộc lời nhau.”
Lục Thừa Viễn khẽ cười: “Hoài Tranh nói nghe có lý. Nhưng con vừa bị cấm tự ý tra án Triệu Nhị. Bến Nam lại dính tuyến vận lương. Nếu con đi, ranh giới giữa đọc sổ phụ và tra án sẽ rất mờ.” Đây mới là chỗ ông giỏi. Ông không phủ nhận lý của ta, chỉ đặt lệnh cấm của Lục Sùng lên vai ta như một chiếc áo ướt. Mặc nó thì lạnh, cởi nó thì phạm quy.
Ta ngẩng đầu: “Vậy xin tổ phụ định ranh giới trước mặt tộc đường. Vụ Triệu Nhị, con không hỏi. Kho Tây, con không chạm. Sổ phụ đã niêm, con vẫn đọc theo quy trình đã định. Bến Nam là việc thương đội mất hàng và dược liệu Tạ gia bị tráo; nếu tổ phụ cho phép, con chỉ đi với thân phận người đã lập phương án kiểm kê trong khảo hạch, nhìn quy trình nhận hàng có lỗ hổng hay không. Đi cùng con có Tần tiên sinh ghi chép, người đại phòng và nhị phòng cùng chứng kiến. Con không gặp riêng áp thuyền, không giữ riêng chứng cứ, không mở kiện hàng nếu không có người Tạ gia ở đó.”
Nói đến đây, ta nhìn về phía cửa hông. “Dược liệu là hàng của Tạ gia. Nếu muốn mở kiểm, phải mời người Tạ gia nhận mặt thuốc. Nếu không, hôm nay chúng ta nói rễ lau là cam thảo, ngày mai bên ngoài cũng có thể nói bùn sông là thuốc cứu mạng.” Vân Chi đứng ngoài mái hiên bỗng lên tiếng, trong trẻo mà cứng hơn ta tưởng: “Tạ gia có người nhận mặt thuốc. Ta nhận được cam thảo thật hay giả.” Gia nhân chắn trước mặt nàng hoảng hốt quay đầu. Tộc đường lập tức xôn xao. Nàng không bước qua ngưỡng cửa, chỉ đứng ngoài đó, đúng phần lễ nghi cho phép, nhưng giọng nói đã vào trong. “Nếu Lục gia sợ ta là nữ nhi không đủ tư cách, có thể gọi cha ta. Nhưng trước khi cha ta tới, xin đừng để ai tự tiện đụng vào dược liệu mang dấu Tạ gia.”
Ta suýt bật cười, không phải vì buồn cười, mà vì lát cam thảo cuối cùng trong tay áo bỗng có vẻ rất đắt. Nàng không cần ta kéo vào. Nàng tự biết đứng ở ranh giới nào để lời mình có trọng lượng mà không khiến người khác bắt lỗi. Nguồn sáng đúng là nguồn sáng, nhưng nếu ai tưởng đèn chỉ biết soi đường, không biết làm nóng tay người chạm vào, người đó rất nhanh sẽ bị phỏng.
Lục Sùng nhìn Vân Chi ngoài cửa, rồi nhìn ta. Trong đôi mắt già nua ấy có mệt mỏi, có cảnh giác, và có thứ gì đó giống như một tiếng thở dài bị nuốt ngược. Ông hỏi: “Ngươi biết đi Bến Nam nghĩa là gì không?” Ta biết. Nghĩa là vừa có quyền đọc sổ phụ đã bị kéo khỏi tộc học. Nghĩa là người trong nhà sẽ nói ta tham công, người ngoài có thể nói ta xen vào việc Tạ gia, còn kẻ đứng sau có thêm cơ hội thử xem ta có bao nhiêu bản lĩnh ngoài mấy trang sổ. Nghĩa là nếu Chu Mậu chết, ta sẽ lại nhìn thấy một người giữ sổ biến thành miệng câm. Nhưng nếu không đi, lá thư này sẽ được người khác đọc thay ta; mà trong đời ta, những con số bị người khác đọc thay thường chẳng còn nguyên hình dạng ban đầu.
Ta quỳ xuống lần nữa. Đầu gối vừa hết tê lại đau, đau đến mức ta nhớ rõ mình vẫn chỉ là một đứa trẻ mười hai tuổi trong thân xác chưa kịp lớn. Ta nói: “Tôn nhi biết. Nhưng nếu sổ phụ là thứ giúp con nhìn lại chuyện cũ, Bến Nam là thứ đang xảy ra trước mắt. Người giữ sổ tuyến còn chưa biết sống chết, dược liệu Tạ gia chưa biết bị ai tráo, thương đội Lục gia chưa biết bị đục từ chỗ nào. Con xin tổ phụ cho con đi xem.”
Ngoài hiên, mưa đã ngừng, nhưng nước trên mái vẫn nhỏ xuống từng giọt. Một giọt rơi đúng vào bậc đá trước cửa tộc đường, vỡ ra thành mấy vệt sáng dưới đèn. Ta cúi đầu chờ câu trả lời của Lục Sùng, chợt nghe bên ngoài có tiếng vó ngựa gấp gáp hơn cả gia đinh vừa rồi. Một giọng khàn khàn vang lên ngoài sân: “Bẩm gia chủ! Bến Nam lại gửi tin! Trên bờ sông tìm thấy áo ngoài của Chu Mậu, trong tay áo có một mảnh giấy ghi tên… Lục Hoài Tranh!”
