Chương 3: Con gái của người bị kết án
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcCHƯƠNG 3. CON GÁI CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN
Tôi từng nghĩ thứ đáng sợ nhất trong một cuộc họp khủng hoảng là khách hàng không chịu nhận lỗi. Sau sáng hôm đó, tôi mới biết còn một thứ đáng sợ hơn: một người vừa phát hiện ra tên cha bạn, nhưng vẫn mỉm cười như chưa có gì xảy ra. À không, Lục Minh Khang không mỉm cười. Anh ta không phải kiểu người phung phí cơ mặt cho những hoạt động xã giao không tạo ra giá trị vận hành. Nhưng chính vì anh ta không cười, không nổi giận, không đuổi tôi ra ngoài ngay lập tức, sự im lặng sau cuộc họp càng giống một sợi dây thép mỏng siết quanh cổ tay.
Cuộc họp khủng hoảng kết thúc lúc gần mười một giờ trưa. Phòng họp lớn của Dư Quang vẫn sáng trắng đến nhức mắt. Trên màn hình là timeline tôi vừa xin được quyền xem: thời điểm app nhận tín hiệu từ điện thoại nạn nhân Phạm Quốc Thịnh, thời điểm hệ thống đề xuất tuyến phản ứng nhanh, thời điểm đội cứu hộ rời trạm, thời điểm họ đến hiện trường — muộn mười một phút so với ước tính ban đầu. Mười một phút. Trong truyền thông, người ta có thể gọi đó là “khoảng trễ vận hành”. Trong cuộc sống, mười một phút đủ để một người đang thở biến thành một cái tên trong cáo phó.
Tôi đứng trước màn hình, tay ôm laptop, đầu óc vẫn chạy theo những dòng dữ liệu đứt đoạn. Phía pháp chế đang tranh luận với phòng kỹ thuật về việc có được dùng chữ “sai số hệ thống” trong thông cáo hay không. Một chị truyền thông nội bộ thì gần như phát khóc vì phóng viên đã gửi thêm ba mươi hai câu hỏi, câu nào cũng nhọn như dao gọt trái cây loại rẻ tiền nhưng rất nhiệt tình cắt tay.
Trần Bảo Lâm bước tới trước mặt tôi, vẫn giữ nụ cười lịch thiệp vừa đủ. “Cô An Hạ, lát nữa bộ phận dữ liệu sẽ gửi cho cô bản timeline đã được lọc.” Tôi ngẩng lên. “Đã được lọc?”. “Những phần cần thiết cho truyền thông.” Anh ta nói rất nhẹ, như thể chữ “lọc” không có gì đáng chú ý. “Một số dữ liệu vận hành nội bộ không tiện chia sẻ ra ngoài.”
Tôi nhìn anh ta vài giây. “Anh Bảo Lâm, tôi xử lý khủng hoảng, không viết văn mẫu thi học kỳ. Nếu chỉ nhận phần đã được gọt cạnh, tôi sẽ không biết cái nào là sự thật, cái nào là phần công ty muốn công chúng biết”. Nụ cười của Bảo Lâm hơi khựng lại. Rất nhanh thôi. Nếu tôi không làm nghề phải soi từng cái nhíu mày của khách hàng để biết họ sắp nói dối câu nào, chắc tôi đã bỏ qua. “Cô sắc sảo hơn tôi nghĩ”. “Tôi cũng hay nghe câu đó từ những người định đưa tôi tài liệu thiếu”.
Một tiếng ho khẽ vang lên phía sau. Tôi quay lại. Lục Minh Khang đứng ở cửa phòng họp từ bao giờ, tay cầm một tập hồ sơ mỏng màu xám. Ánh mắt anh quét qua tôi, rồi dừng trên Bảo Lâm. “Gửi cô ấy toàn bộ timeline điều phối ca Phạm Quốc Thịnh”. Bảo Lâm nghiêng đầu. “Khang, toàn bộ à”? “Toàn bộ phần liên quan đến khủng hoảng hiện tại”. “Cậu chắc chứ? Người ngoài tiếp cận sâu quá, lỡ—”. “Cô ấy đang làm việc cho chúng ta.” Minh Khang cắt ngang. Giọng anh không lớn, nhưng đủ khiến căn phòng tự động im thêm một tầng. “Ít nhất là…hiện tại.”
Hai chữ cuối rơi xuống rất nhẹ. Tôi nghe được. Bảo Lâm cũng nghe được. Không khí giữa ba người đột nhiên có mùi kim loại lạnh. Tôi ôm laptop chặt hơn một chút, rồi hỏi thẳng: “Có vấn đề gì với việc tôi làm việc cho Dư Quang sao, anh Minh Khang?” Anh nhìn tôi. Lúc sáng, trong cuộc họp, ánh mắt đó lạnh vì kiểm soát. Bây giờ, nó lạnh theo kiểu khác. Không còn là người đứng đầu một startup cứu hộ đang đo thiệt hơn với chuyên gia truyền thông thuê ngoài. Nó giống một người đã mở lại chiếc hộp cũ chôn dưới đất, nhìn thấy thứ bên trong vẫn còn nguyên mùi máu, và quyết định không đóng lại nữa. “Có.” Anh nói.
Pháp chế im bặt. Chị truyền thông nội bộ nhìn xuống điện thoại như thể màn hình vừa có 1 thông báo gì đó rất quan trọng và gấp gáp. Tôi không thích những khoảnh khắc cả phòng cùng giả vờ bận. Thường sau đó sẽ có người bị đem ra mổ. Lần này, người đó là tôi.
Minh Khang đặt tập hồ sơ màu xám lên bàn. “Cô Nguyễn An Hạ.” Anh gọi đủ họ tên tôi. Tôi nghe dạ dày mình chìm xuống một chút. “Vâng.” “Cha cô là ông Nguyễn Văn Tâm?” Trong phòng họp, máy lạnh vẫn chạy đều đều. Nhưng tôi có cảm giác ai đó vừa rút hết oxy khỏi không gian này. Tôi không trả lời ngay. Không phải vì tôi xấu hổ. Cũng không phải vì tôi cần nghĩ xem nên nói dối thế nào. Chỉ là có những cái tên, khi bị người lạ gọi ra giữa đám đông, sẽ không còn là cái tên nữa. Nó trở thành một tấm bia. Và người ta thì rất thích ném đá vào bia, miễn không phải nhìn xem bên dưới có ai đang chảy máu hay không.
Tôi đặt laptop xuống bàn. “Đúng.” Một tiếng hít rất khẽ vang lên từ phía ai đó. Tôi không quay lại. Minh Khang nhìn tôi không chớp mắt. “Ông Nguyễn Văn Tâm, người bị kết án trong vụ tai nạn hầm chui Nam Thành mười hai năm trước?” Tôi nghe rõ từng chữ “người bị kết án”. Không phải “cha cô”. Không phải “ông Tâm”. Không phải “người đã mất”. Người bị kết án. Cách gọi đó chính xác, hợp pháp và đủ lạnh để khỏi cần chửi rủa.
Tôi thấy đầu ngón tay mình tê đi, nhưng giọng vẫn giữ được bình thường. “Anh đã có hồ sơ rồi, chắc không cần tôi xác nhận lần hai.” Bảo Lâm khẽ bước lên. “Khang, chuyện này có lẽ nên nói riêng—” “Ở đây không ai cần tránh né sự thật.” Minh Khang nói.
Tôi bật cười rất nhỏ. Không phải vì buồn cười. Vì nếu không cười, tôi sợ mình sẽ nói một câu rất khó thay đổi tình thế. “Đúng. Sự thật thì không cần tránh né.” Tôi nhìn thẳng vào anh. “Nhưng cách anh chọn gọi nó ra trước một phòng toàn người vừa đủ cho thấy anh không muốn sự thật. Anh muốn phản ứng của tôi.”
Mắt Minh Khang tối lại. Trong một giây, tôi tưởng anh sẽ nổi giận. Nhưng anh không. Anh chỉ mở tập hồ sơ, rút ra một bản photocopy cũ. Mép giấy đã ngả màu, trên đó có ảnh chụp hầm chui, biển số xe, dấu đỏ của cơ quan điều tra và một hàng chữ mà tôi từng nhìn thấy rất nhiều lần trong những đêm không ngủ.
Nguyễn Văn Tâm. Tài xế xe dịch vụ. Bị xác định có lỗi trực tiếp trong chuỗi va chạm gây hậu quả nghiêm trọng. Tôi nhìn tờ giấy đó. Có những vết thương kỳ lạ lắm. Bạn tưởng mình đã quen, tưởng da đã chai, tưởng ai nhắc đến cũng chỉ như gió lùa qua sẹo cũ. Nhưng rồi một ngày, người ta đặt nó dưới ánh đèn trắng, đọc từng dòng bằng giọng bình thản, bạn mới biết vết thương không hề lành.
Nó chỉ học cách im. “Anh Minh Khang.” Tôi nói chậm. “Nếu anh muốn hỏi tôi có che giấu thân phận khi nhận dự án này không, câu trả lời là không. Sao Chổi gửi hồ sơ nhân sự, trong đó có đầy đủ thông tin của tôi. Tôi không đổi họ, không đổi tên, cũng không dùng căn cước của người khác.” “Nếu anh muốn hỏi tôi có biết Dư Quang liên quan đến vụ tai nạn năm xưa không, câu trả lời cũng là không. Tôi chỉ biết đến Dư Quang từ email khẩn lúc gần ba giờ sáng nay.”
Minh Khang gấp hồ sơ lại. “Còn nếu tôi hỏi cô đến đây vì ký hiệu đó?” Tim tôi khựng một nhịp. Bảo Lâm quay sang nhìn anh. Tôi siết nhẹ tay. Vậy là anh đã biết tôi nhìn thấy ký hiệu trong bộ nhận diện. Hoặc có camera trong phòng họp nhỏ lúc tôi mở file. Hoặc Dư Quang là một nơi mà mọi cái ngẩng đầu lâu hơn ba giây đều được ghi nhận như dấu hiệu khả nghi.
Tôi không thích cảm giác bị quan sát. Nhất là bởi một người đang xem quá khứ của tôi như chứng cứ phạm tội. “Ký hiệu đó giống một ký hiệu trong sổ tay của ba tôi.” Tôi nói. “Tôi thấy lạ. Nhưng lạ không đồng nghĩa với âm mưu.” “Với cô thì không.” Minh Khang nói. “Với tôi thì có thể.” “Vì ba tôi là người bị kết án?” “Vì em gái tôi đã chết trong vụ tai nạn đó.”
Cả căn phòng lặng xuống. Lần này, đến tôi cũng không tìm được câu nào để chống đỡ ngay. Em gái anh. Trong những bài báo cũ, tôi đã đọc quá nhiều danh sách nạn nhân. Có người là tài xế, có người là nhân viên văn phòng, có người là mẹ đơn thân, có một bé gái mười hai tuổi tên Lục Minh An. Tôi từng dừng lại ở cái tên đó rất lâu. Không phải vì tôi biết cô bé.
Mà vì trong tấm ảnh gia đình được báo đăng, cô bé đứng dưới mái hiên, tóc buộc lệch, cười đến mức mắt cong thành hai vệt sáng nhỏ. Khi ấy tôi mười lăm tuổi, ôm tờ báo trong phòng ngủ, vừa thương cô bé đó, vừa căm ghét chính mình vì cái họ Nguyễn trên giấy khai sinh đột nhiên giống một thứ tội lỗi có thể di truyền.
Lục Minh An. Em gái của Lục Minh Khang. Tôi nhìn người đàn ông trước mặt, lần đầu tiên thấy sau vẻ lạnh lùng của anh có một thứ gì đó nứt ra. Không ồn ào. Không yếu đuối. Nhưng sâu đến mức ánh sáng không chạm tới đáy.
Tôi hiểu rồi. Không phải anh ghét tôi vì tôi làm truyền thông quá cảm tính. Anh ghét tôi vì tôi mang họ tên của một người đã bị đóng dấu là nguyên nhân khiến em gái anh không còn trở về. Và điều tàn nhẫn nhất là: tôi không thể trách anh.
Tôi chỉ không thể để nỗi đau đó biến tôi thành bị cáo lần nữa. “Tôi rất tiếc về em gái anh.” Tôi nói. Giọng tôi khàn hơn tôi muốn. Minh Khang nhìn tôi. Trong mắt anh không có cảm ơn. “Đừng dùng câu đó với tôi.” Tôi mím môi. “Vậy anh muốn tôi dùng câu nào?” “Tôi muốn cô nói thật.” “Tôi đang nói thật.” “Cô nhận dự án này vì tiền, hay vì muốn tiếp cận hồ sơ cũ?”
Câu hỏi đó đánh thẳng vào chỗ mềm nhất. Tôi cần tiền. Tùng còn lịch tái khám, tiền nhà còn đó, cuộc sống thì chưa bao giờ biết ngại khi gửi hóa đơn. Nhưng tôi cũng muốn biết vì sao ký hiệu của Dư Quang lại giống ký hiệu trong sổ tay ba. Muốn đến mức từ lúc bước vào tòa nhà này, mọi dây thần kinh của tôi đều căng như dây đàn. Tôi có thể nói một nửa sự thật. Nghề của tôi sống bằng nửa sự thật được đóng gói đẹp. Nhưng không hiểu sao, trước ánh mắt của Minh Khang, tôi lại thấy nếu mình nói dối, anh sẽ lập tức dùng nó để kết án tôi. Còn nếu nói thật, anh cũng chưa chắc buông dao xuống.
Tệ thật. Một lựa chọn rất nhân văn: đau bên trái hay đau bên phải. “Tôi nhận vì đây là công việc.” Tôi nói. “Tôi ở lại vì có thứ liên quan đến ba tôi.” Bảo Lâm nhíu mày. Minh Khang không đổi sắc mặt. “Tức là cô thừa nhận có mục đích riêng.” “Tôi thừa nhận tôi là con người, không phải máy in thông cáo báo chí.” Tôi đáp. “Tôi có quá khứ. Anh cũng có. Khác nhau là quá khứ của anh được phép gọi là nỗi đau, còn quá khứ của tôi thường bị gọi là vết nhơ.”
Một nhân viên nào đó cúi đầu thấp hơn. Không khí nặng đến mức tôi nghe được tiếng bút rơi rất khẽ trên bàn. Minh Khang bước tới gần hơn một chút. Khoảng cách giữa chúng tôi vừa đủ lịch sự, cũng vừa đủ khiến người ta khó thở. “Ông Nguyễn Văn Tâm đã bị kết án.” “Đúng.” “Cô tin ông ta vô tội?” “Tôi tin ba tôi không phải con người trong hồ sơ đó.” “Niềm tin không thay đổi được bản án.” “Và bản án cũng không biến anh thành người có quyền kết án tôi.”
Lần đầu tiên, tôi thấy đáy mắt Minh Khang dao động. Rất nhanh, nhanh như vệt sáng lướt qua mặt nước trước khi bị mưa đánh tan. Anh quay đi, cầm lại tập hồ sơ. “Cô vẫn tiếp tục dự án.” Tôi sững một nhịp. Bảo Lâm lập tức lên tiếng: “Khang, cậu nghĩ kỹ chưa? Với thân phận của cô An Hạ, nếu truyền thông phát hiện—” “Truyền thông sớm muộn cũng phát hiện.” Minh Khang nói. “Ít nhất để cô ấy ở đây, tôi biết cô ấy đang làm gì.”
Câu đó không khác gì một cái khóa cài vào cổ tay. Tôi nhìn anh. “Anh giữ tôi lại để làm việc, hay để giám sát?” “Cả hai.” Thẳng thắn đến mức đáng ghét. Tôi cười nhạt. “Vậy tôi có nên cảm ơn vì anh chưa gọi bảo vệ không?” “Không cần.” Anh nhìn tôi. “Từ giờ, mọi dữ liệu cô cần sẽ được duyệt qua tôi. Cô không được tự ý tiếp cận kho dữ liệu cũ, không liên hệ riêng với nhân viên kỹ thuật, không đưa bất cứ chi tiết nào liên quan đến vụ tai nạn mười hai năm trước vào phương án truyền thông hiện tại.” “Tôi chưa từng nói sẽ làm vậy.” “Tôi cũng chưa từng nói tôi tin cô.”
Câu đó không lớn. Nhưng nó đập vào tôi đau hơn tiếng quát. Tôi cúi xuống, đóng laptop lại. Lòng bàn tay chạm vào mặt kim loại lạnh ngắt. “Vậy chúng ta rõ ràng rồi.” Tôi nói. “Anh không tin tôi. Tôi cũng không đến đây để xin lòng tin của anh. Tôi đến để giải quyết khủng hoảng của Dư Quang theo hợp đồng. Phần còn lại, nếu có, tôi sẽ tự tìm câu trả lời bằng cách của mình.”
Ánh mắt Minh Khang sắc lên. “Đừng thử vượt ranh giới, cô Nguyễn.” Tôi ôm laptop lên. “Anh cũng vậy, anh Lục.” Không ai tiễn tôi ra khỏi phòng họp. Tốt thôi. Tôi cũng không cần ai tiễn mình ra khỏi một nơi vừa biến họ tên cha tôi thành vật chứng trưng bày.
Hành lang bên ngoài trụ sở Dư Quang dài và sáng. Tường kính phản chiếu bóng tôi đi qua, mặt nhợt nhạt vì thiếu ngủ, tóc buộc vội, vai áo còn một vệt nhăn từ đêm qua. Tôi trông không giống một người sắp bước vào cuộc chiến mười hai năm. Tôi trông giống một người chỉ muốn về nhà, ăn bát canh chua bà Năm để phần, rồi ngủ mười tiếng không mơ thấy bất cứ đường hầm nào.
Nhưng điện thoại trong túi rung lên. Tin nhắn từ Tùng. “Chị họp xong chưa? Nhớ ăn trưa. Đừng có uống cà phê thay cơm.” Tôi nhìn dòng chữ đó, cổ họng bỗng nghẹn lại. Tôi muốn nhắn lại: “Chị ổn.” Nhưng ngón tay dừng trên bàn phím rất lâu. Cuối cùng, tôi chỉ gõ: “Ừ. Chị biết rồi.” Nói dối người thân đôi khi không phải vì muốn giấu. Mà vì sự thật quá nặng, mình không nỡ đặt thêm lên tay họ.
Tôi đi đến cuối hành lang thì nhận ra mình để quên bản nháp phương án truyền thông đã in trong phòng họp nhỏ bên cạnh. Một lỗi rất nghiệp dư mà tôi khó mắc phải, nhưng sau khi bị lôi gia phả ra kiểm tra trước cả phòng, khiến mạch suy nghĩ của tôi bị chững lại. Tôi quay lại. Cửa phòng họp lớn phía sau không đóng hẳn. Tôi không định nghe lén. Tôi chỉ đi ngang qua đúng lúc giọng Bảo Lâm vang lên, thấp hơn bình thường: “Khang, giữ cô ta lại là rủi ro. Nếu cô ta thật sự đào lại hồ sơ năm đó thì sao?”
Bước chân tôi khựng lại. Qua khe cửa hẹp, tôi thấy bóng Minh Khang đứng cạnh bàn họp. Anh quay lưng về phía tôi, vai thẳng, tay đặt trên tập hồ sơ màu xám. Giọng anh lạnh đến mức tôi không phân biệt được đó là bình tĩnh hay thù hận đã đông cứng quá lâu. “Vậy càng phải để cô ta ở gần.” Bảo Lâm im vài giây. “Cậu muốn gì ở cô ta?”
Minh Khang không trả lời ngay. Tôi đứng ngoài hành lang, tay ôm laptop, tim đập chậm mà nặng. Rồi anh nói: “Tôi muốn biết cô ta đến đây vì tiền hay vì hồ sơ năm đó.” Tôi nhìn vệt sáng mỏng phản chiếu trên nền kính dưới chân mình. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu: mình không chỉ bước vào một dự án khủng hoảng. Tôi đã bước vào vùng sáng của một người xem tôi như bóng tối.
