Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 66: Cháo Nóng Trong Mưa

Chương 66: Cháo Nóng Trong Mưa

Người giữ kho nói xong câu ấy, tiếng mưa ngoài mái hiên như bị ai kéo thấp xuống. Trong kho, mùi gạo ẩm, trấu mục và bùn lạnh quện vào nhau, khiến lời khai kia càng giống một nắm đất ném thẳng vào mặt người sống. Ta không lập tức nhìn Lục Thừa Viễn. Có những lúc, nhìn quá nhanh sẽ khiến kẻ có tật kịp sửa lại sắc mặt. Ta chỉ đặt tay lên quyển sổ phát lương, nghe tiếng bàn tính trong tay áo va nhẹ vào xương cổ tay, rồi nói: “Ghi nguyên lời hắn. Không thêm, không bớt.”

Quản sự cầm bút run đến mức ngòi mực chấm xuống giấy thành một vệt đen. Lý trưởng Hạ Hà chống gậy đứng bên cạnh, sắc mặt xám như tro bếp ngấm nước. Một tộc lão muốn mở miệng khuyên ta cẩn thận, nhưng cuối cùng chỉ ho khan. Lục Thừa Viễn lúc này mới bước ra khỏi mái hiên, giọng vẫn giữ được vẻ ôn hòa đáng ghét: “Hoài Tranh, đêm mưa lũ, người giữ kho hoảng loạn nói bừa cũng không lạ. Chỉ dựa vào một câu như thế đã muốn kéo nhị phòng vào chuyện quan lương, ngươi không sợ sau này khó thu dọn sao?”

Ta ngẩng đầu nhìn ông ta. “Nhị thúc yên tâm. Đêm nay ta không kết tội ai, chỉ giữ chứng.” Ta quay sang Thanh Hành. “Đưa người giữ kho đến lều trong, để hai gia đinh và một người của lý trưởng trông cùng. Không gọi là giam. Gọi là bảo vệ nhân chứng. Từ giờ đến sáng, ai tự ý đến gần hắn, ghi tên.” Thanh Hành đáp một tiếng rất gọn. Hắn vốn nóng nảy, nhưng sau khi thấy ruột bao quan lương toàn trấu và cát, cái nóng ấy giống lửa bị ép vào trong lò, không bùng bừa nữa mà đỏ âm ỉ.

Ngoài cổng, tiếng dân lại dâng lên. Người áo nâu kia không biết nấp ở chỗ nào, cứ lựa đúng lúc lòng người chao đảo mà gào: “Lục gia phát gạo giả! Quan lương giả hay gia lương giả thì dân cũng chết đói thôi!” Mấy người phía trước bị đẩy lảo đảo, một đứa trẻ khóc ré lên vì bị kẹp giữa người lớn. Từ y lều tạm, Tạ Vân Chi đột nhiên bước ra. Áo nàng ướt đến dán vào vai, tóc mai dính trên má, nhưng đôi mắt vẫn sáng đến mức làm người ta không thể giả vờ không thấy. Nàng nhìn ta, giọng khàn mà rõ: “Hoài Tranh, nồi cháo đầu đã sôi. Nếu ngươi còn muốn dân tin, để họ được ăn trước đã.”

Ta biết câu ấy không phải thúc giục ta bỏ chứng cứ. Nàng đang nhắc ta đêm nay có hai quyển sổ phải cùng tồn tại: một quyển ghi tội, một quyển giữ mạng. Ta lập tức nói với quản sự: “Từ kho Tây lấy ba mươi bao gia lương đã kiểm nguyên hạt, ghi riêng vào sổ dân sinh. Quan lương kho Đông chưa kiểm xong, một hạt cũng không được bỏ vào nồi. Mỗi nồi cháo treo thẻ gỗ, ghi rõ gạo từ bao nào, nước từ giếng nào, người nào nấu, người nào múc. Ai đổi muôi, đổi thùng, đổi muối gừng, lập tức dừng nồi.”

Lục Thừa Viễn cười lạnh: “Phát một bát cháo cũng phải ghi như xét án, dân chờ được sao?” Ta đáp: “Dân có thể chờ cháo nguội một chút, không chờ được người chết rồi mới biết chết vì cái gì.” Câu ấy làm ông ta im một nhịp. Ta không cần ông ta chịu thua. Đêm nay ông ta chỉ cần càng đứng dưới đèn càng tốt, để mọi ánh mắt nhớ rõ lúc dân cần người, ai đang phát cháo, ai đang hỏi vì sao phải ghi sổ.

Vân Chi không đợi ta nói thêm. Nàng kéo hai tấm vải dầu xuống, sai người buộc thành đường chắn giữa sân và y lều. Bên trái là chỗ phát cháo, bên phải là chỗ xem bệnh, phía sau cùng dành cho người sốt cao, nôn tháo hoặc rét run không đứng vững. Nàng bảo tiểu tư đốt thêm bếp, tất cả nước phải sôi đủ một tuần trà mới được dùng. Thau rửa tay đặt cạnh cột, ai múc cháo xong phải nhúng muôi vào nước sôi, không được tiện tay dùng chung với thau thuốc. Những lời ấy không hoa mỹ, thậm chí vụn vặt, nhưng trong mưa lũ, sự vụn vặt đúng chỗ chính là mạng người.

Ta đứng ở cửa kho nhìn nàng một lúc. Nàng không còn là cô nương năm xưa lén giấu bánh quế trong tay áo rồi dọa ta nếu không ăn sẽ mách tổ phụ. Nàng vẫn có dáng vẻ ấy khi cau mày, vẫn thích dùng lời nói nhanh để ép người khác nghe theo, nhưng bàn tay nàng lúc này đặt lên trán đứa trẻ sốt, chỉ cần một cái chạm đã phân biệt được ai đói lạnh, ai nhiễm nước bẩn, ai cần thuốc trước, ai chỉ cần cháo loãng. Có lẽ ánh sáng của hoa đăng không phải vì nó không sợ gió, mà vì trong gió nó vẫn biết soi chỗ nào tối nhất.

Bát cháo đầu tiên được múc ra, loãng đến mức nhìn thấy đáy bát, nhưng có hơi nóng. Vân Chi không đưa cho người khỏe đang chen phía trước, mà đặt vào tay một bà lão ôm đứa cháu nhỏ tím môi. “Uống từng ngụm nhỏ. Đừng vội.” Bà lão run rẩy nhìn nàng, lại nhìn về phía kho, như sợ bát ấy cũng giấu cát. Vân Chi bèn cầm muỗng gỗ, múc một chút cháo trong nồi trước mặt mọi người nếm thử. Tạ Hành Chu ở bên cạnh nhíu mày gọi nàng, nàng chỉ xua tay: “Nồi này con tự nhìn từ lúc vo gạo, không sao.”

Tiếng ồn ngoài cổng dịu xuống một chút. Một người đàn ông gầy gò bước lên nhận cháo, rồi bỗng quay đầu mắng kẻ phía sau: “Đừng đẩy nữa! Con ta còn thở được là nhờ bát này!” Lòng dân không phải thứ có thể mua bằng một câu nói đẹp. Nó giống nước sau lũ, đục ngầu, lạnh buốt, nhưng nếu có một chỗ để chảy, nó sẽ tự tìm đường. Vân Chi đã mở cho họ một con đường rất nhỏ bằng cháo nóng, thuốc hạ sốt và giọng nói khản đặc của nàng.

Đúng lúc ấy, phía lều sau có tiếng kêu thất thanh. Một bé trai vừa được mẹ bế vào bỗng co người nôn ra nước vàng, cả thân nóng hầm hập nhưng tay chân lạnh như đá. Đám đông lập tức xôn xao, người áo nâu lại hét lên rằng bệnh dịch tới rồi, Lục gia gom dân vào một chỗ là muốn giết hết. Ta vừa bước xuống bậc thì Vân Chi đã đến trước ta. Nàng quỳ xuống, kéo mí mắt đứa bé, bắt mạch rất nhanh, rồi bảo người mẹ: “Không phải dịch. Nó đói lâu, lại uống nước bẩn và dầm mưa. Đưa sang lều ấm, thay áo khô, cháo pha chút muối, không cho uống nước sống nữa.”

Người mẹ khóc đến lạc giọng: “Cô nương cứu nó, ta chỉ còn mình nó.” Vân Chi không hứa suông. Nàng quay đầu gọi tên từng người như đã sắp sẵn trong đầu: “A Mộc, lấy chăn khô trong xe thuốc. Xuân Nương, nhóm bếp nhỏ. Cha, cho con gói thuốc ôn trung loại nhẹ. Thanh Hành công tử, phiền ngươi bảo người khỏe lùi khỏi lối vào, ai chen lên thì ghi tên cuối danh sách.” Thanh Hành bị nàng sai khiến trước mặt bao người, vậy mà chỉ sững nửa hơi rồi lập tức đi làm. Nếu là mấy tháng trước, hắn nhất định đã nổi giận. Đêm nay, ai còn hơi sức giận vì sĩ diện thì đúng là ăn quá no.

Đứa bé sau nửa bát cháo muối và một lớp áo khô cuối cùng cũng bớt run. Người mẹ ôm con quỳ xuống, chưa kịp dập đầu đã bị Vân Chi kéo dậy. “Đừng quỳ, nền ướt. Giữ sức mà bế nó.” Câu ấy không lớn, nhưng truyền ra nhanh hơn cả tiếng hô kích động. Những người đang chen lấn dần đứng thành hàng. Có người tự cởi áo tơi che cho trẻ nhỏ, có người nhường chỗ cho người già. Ta cúi đầu ghi thêm một dòng vào sổ: giờ Hợi ba khắc, nồi cháo thứ nhất phát ba mươi bảy bát, không dùng quan lương kho Đông, dân chứng kiến.

Một quản sự già đi đến bên ta, thấp giọng hỏi: “Thiếu chủ, kho bên trong còn kiểm tiếp không?” Ta nhìn về phía những bao lương giả đã được niêm mẫu, rồi nhìn sang nồi cháo đang bốc hơi trắng trong mưa. “Kiểm,” ta nói. “Nhưng chia người. Một nửa ở kho, một nửa ở lều cháo. Đêm nay chứng cứ không được mất, người cũng không được chết vì chúng ta mải giữ chứng cứ.” Nói ra câu ấy, ta mới biết mình đã đi xa hơn rất nhiều so với ngày chỉ muốn sống sót trong từ đường. Khi người ta gánh một gia tộc, cuối cùng sẽ phát hiện gia tộc không chỉ là nhà cửa, gia phả và kho lương, mà còn là những người đang đứng dưới mái hiên của mình chờ một bát cháo nóng.

Mưa càng lúc càng dày. Nồi thứ hai, thứ ba lần lượt được bắc lên. Vì sợ dân đói quá ăn nhanh sinh đau bụng, Vân Chi cho cháo loãng trước, người khỏe nhận ít hơn, trẻ nhỏ và người bệnh nhận thêm nửa bát. Nàng còn bảo ghi dấu than lên thẻ tre của từng hộ, không phải để làm khó dân, mà để tránh một người nhận nhiều lần khiến người phía sau không còn gì. Cách ấy khô khan đến mức rất giống ta, nhưng khi nàng nói ra, mọi người lại dễ nghe hơn. Có lẽ vì nàng vừa nói vừa tự tay đắp chăn cho người bệnh, không ai thấy đó là phép tính lạnh.

Ta vừa quay lại kho thì một tiểu tư từ lều cháo chạy tới, mặt trắng bệch hơn cả giấy niêm bị mưa ngấm. “Thiếu chủ, Tạ cô nương bảo ngài qua ngay.” Tim ta trầm xuống. Ta bước nhanh qua sân, nghe tiếng ồn vừa lắng lại bỗng nổi lên từng vòng. Trước nồi cháo số ba, hai bát cháo rơi nghiêng trên đất, hơi nóng lẫn với nước mưa thành một vệt trắng đục. Một ông lão ôm bụng cúi gập người, bên cạnh là cô bé vừa uống nửa bát, môi tái đi, mắt mở lớn vì sợ.

Vân Chi đứng giữa đám người, một tay giữ cổ tay cô bé, tay kia cầm chiếc muỗng gỗ đưa lên mũi ngửi. Sắc mặt nàng không hoảng, nhưng chính vì không hoảng nên ta càng thấy lạnh. Nàng nhìn ta, rồi nhìn thẻ gỗ treo trên nồi. “Nồi số ba lúc nãy còn bình thường. Ai đã thêm muối gừng sau khi ta rời đi?” Không ai đáp. Tạ Hành Chu bước tới ngửi bát cháo rơi trên đất, sắc mặt cũng đổi. Trong tiếng mưa dội lên mái vải dầu, Vân Chi đặt muỗng xuống, từng chữ thấp đến mức chỉ những người gần nhất nghe được, nhưng đủ làm cả sân lạnh ngắt: “Không phải cháo hỏng. Có người bỏ thuốc vào nồi này.”