Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 42: Tổ Phụ Nói Dối

Chương 42: Tổ Phụ Nói Dối

Lời cảnh cáo của Lục Sùng rơi xuống giữa tiếng gió, nặng hơn cả tiếng gậy vừa nện lên nền đá. Nhất là trước mặt Tạ gia. Sáu chữ ấy giống một then cửa đóng sầm trước mắt ta, cũng giống một mũi kim khâu vội vào miệng vết thương cũ, chỉ cần kéo nhẹ là máu sẽ thấm ra. Ta nhìn tổ phụ, trong khoảnh khắc ấy bỗng thấy ông già đi rất nhiều. Ánh đèn bên hồ phủ lên tóc bạc của ông, khiến dáng vẻ uy nghiêm thường ngày như bị mài mòn, chỉ còn lại một người đã giữ bí mật quá lâu đến mức chính bí mật ấy cũng mọc rễ trong xương.

Vân Chi đứng sau ta không nói. Nàng hiếm khi yên lặng lâu như vậy, nhưng sự yên lặng của nàng không phải tránh né. Ta biết nàng đang nhìn tay ta. Vết móng tay cắm vào lòng bàn tay đã rách da từ lúc nào, đau âm ỉ, nhưng so với cái tên Tô Diên bị người ta kéo ra dưới ánh đèn, đau ấy lại trở nên rất nhỏ. Thẩm Kính đã đi rồi, tiệc cũng đang tan, thế nhưng câu hỏi ông ta để lại vẫn ở đó: nếu ngay cả con trai nàng cũng không biết nàng để lại gì, chẳng phải quá cô độc sao?

Ta hỏi rất khẽ: “Tổ phụ, người sợ Thẩm Kính, hay sợ con biết Tạ gia từng làm gì?”

Đầu ngón tay Lục Sùng trên đầu gậy hơi động. Chỉ một cái rất nhỏ, nhưng ta nhìn thấy. Người làm sổ lâu năm đều hiểu, con số lớn thường không phản bội trước, phản bội trước là một vết mực lệch. Tổ phụ có thể dùng giọng uy nghiêm ép cả tộc đường im lặng, nhưng không thể ép ngón tay vừa nghe đến Tạ gia vẫn bình ổn như cũ.

“Ta sợ ngươi chết.” Ông đáp.

Câu ấy không giống lời dọa. Chính vì không giống, lòng ta mới lạnh hơn. Một lời nói thật đôi khi có thể dùng để che một lời nói dối lớn hơn. Ta nhìn vào mắt ông, chậm rãi hỏi: “Vậy mẫu thân chết vì biết quá nhiều, hay vì tin nhầm người?”

Lục Sùng nhìn ta rất lâu. Tiếng người ở thủy tạ phía xa dần loãng, xe ngựa Thẩm gia đã lăn qua cổng ngoài, bánh xe nghiến lên đá xanh nghe như tiếng ai nghiền giấy cũ. Cuối cùng ông nói: “Tô Diên không để lại sổ trong Lục gia. Những thứ của nàng năm đó đã theo gia pháp xử trí. Ngươi nghe rõ chưa?”

Ta nghe rõ. Rõ đến mức lập tức biết ông đang nói dối.

Nếu ông chỉ nói đừng tra, ta còn có thể xem đó là bảo vệ. Nhưng ông nói Tô Diên không để lại sổ trong Lục gia. Ta chưa hỏi sổ ở đâu, ông đã tự khóa cửa ấy lại trước mặt ta.

“Con nghe rõ.” Ta cúi đầu hành lễ. “Đêm đã muộn, tổ phụ cũng nên nghỉ.”

Lục Sùng không vì sự thuận theo ấy mà nhẹ nhõm. Ông nhìn ta thêm một lát rồi xoay người đi về phía hành lang. Lộc quản gia vội cầm đèn theo sau. Khi ông bước qua ta, một vật nhỏ nơi thắt lưng va vào ngọc bội, phát ra tiếng kim loại rất khẽ.

Ta nhìn xuống. Đó là một chiếc chìa khóa đồng cũ, buộc bằng dây lụa xanh đã phai màu. Mép chìa có một vết mẻ hình bán nguyệt. Không phải đồ thường dùng hằng ngày của gia chủ, vì đồ dùng hằng ngày sẽ không để rỉ xanh ăn vào rãnh sâu như thế. Nó giống thứ bị cất quá lâu, chỉ trong đêm bất ngờ được đem ra.

Vân Chi đợi Lục Sùng đi xa mới bước đến bên cạnh ta. “Ngươi lại định làm chuyện không khiến người ta yên tâm rồi.”

Ta thu mắt khỏi bóng lưng tổ phụ. “Ta trông giống vậy sao?”

“Nếu ngươi trông không giống, ta đã không cần đứng đây.” Nàng giơ một chiếc khăn tay lên, không ép ta nhận, chỉ đưa tới giữa hai người. “Lau tay trước. Người thông minh nếu để máu nhỏ lên sổ, sau này muốn nói mình chỉ đi ngang cũng rất khó.”

Lời đùa của nàng vẫn nhẹ, nhưng đáy mắt không cười. Ta nhận khăn. Trên khăn có mùi thuốc rất nhạt, giống mùi trong y quán Tạ gia, thứ mùi từng khiến từ đường lạnh lẽo của ta có một khe hở để thở. Ta muốn hỏi nàng có biết gì về Tô Diên không, có từng nghe phụ thân nàng nhắc đến quân lương không. Nhưng nhìn ánh mắt nàng, ta bỗng nuốt hết những câu ấy xuống. Vân Chi không phải cái rương để ta mở khi cần tìm đồ. Nàng là người sống, mà người sống không nên bị ta dùng nghi ngờ làm chìa.

“Về đi.” Ta nói. “Tạ bá phụ đang tìm nàng.”

Nàng nhìn ta một lát. “Ta không hỏi, không phải vì ta không muốn biết. Ta đi, cũng không phải vì ta mặc kệ ngươi.”

Cổ họng ta nghẹn nhẹ. “Ta biết.”

Vân Chi hừ một tiếng rất nhỏ, như không hài lòng với hai chữ nghèo nàn của ta, rồi quay người đi. Đi được vài bước, nàng lại ngoái đầu. “Nếu người sống đều không chịu nói thật, ngươi có thể thử hỏi đồ vật. Đồ vật tuy câm, nhưng ít biết giữ thể diện hơn người lớn.”

Ta nhìn nàng đi về phía Tạ Hành Chu. Khi Vân Chi đến gần, Tạ bá phụ lập tức kéo nàng ra sau mình. Ông không nhìn ta, hoặc đúng hơn là không dám nhìn. Tổ phụ dặn ta đừng hỏi trước mặt Tạ gia, nhưng phản ứng ấy lại giống người đã nghe tiếng khóa bị tra vào ổ.

Đồ vật tuy câm, nhưng ít biết giữ thể diện hơn người lớn.

Ta quay về Lục gia không đi thẳng đến phòng mình, mà vòng qua thư phòng phụ cạnh tộc đường. Đêm nay phụ biên mới ký, Tào quản sự phải đem bản chép tạm nhập vào sổ tộc vụ, đó là lý do đủ sạch để ta xuất hiện ở nơi có sổ cũ. Tào quản sự thấy ta đến, sắc mặt vẫn còn vui vì vừa tránh được một lỗi chữ trước mặt người ngoài. Ông lục tìm bản phụ biên cho ta, miệng lẩm bẩm rằng người già mắt kém, may nhờ Tạ cô nương nhanh miệng.

Ta không vội xem phụ biên. Ánh mắt rơi lên giá sổ phía sau ông. Trên đó có một bó hồ sơ bọc vải xám, góc vải thêu chữ “di vật” đã phai gần hết. Ta hỏi như thuận miệng: “Tào thúc, đồ của người bị xử theo gia pháp năm xưa đều ghi ở đây sao?”

Tào quản sự khựng tay. “Công tử hỏi chuyện này làm gì?”

“Đối chiếu lệ cũ.” Ta mở phụ biên ra, chỉ vào dòng sính lễ Thẩm gia phải tách khỏi nợ thương vụ. “Thẩm gia sau này nếu vin vào lễ vật cũ, Lục gia phải có lệ để trả lời. Đồ đã nhập kho, đồ đã hủy, đồ trả về nhà mẹ đẻ, mỗi loại khác nhau.”

Lý do này đủ hợp lý. Tào quản sự do dự một chút rồi lấy bó hồ sơ xuống. Hồ sơ mở ra, mùi giấy cũ và bụi ẩm lập tức tràn lên. Ta lật từng trang, không nhanh, cũng không chậm. Những cái tên xa lạ trôi qua dưới mắt: người bị truất khỏi gia phả, người chết không rõ ràng, người để lại vài món bạc vụn. Đến trang thứ mười bảy, đầu ngón tay ta dừng lại.

Tô thị Diên. Di vật nhập hậu khố từ đường: một rương sơn đen khóa đồng, một hộp trâm gãy, ba quyển sổ riêng bị niêm phong. Chìa do gia chủ giữ. Không mở.

Không mở. Hai chữ ấy đặt cạnh câu “theo gia pháp xử trí” của Lục Sùng, khiến ta gần như muốn cười. Người lớn trong gia tộc quả nhiên rất biết đặt tên cho lời nói dối. Không đốt gọi là xử trí. Không giao ra gọi là bảo vệ. Không dám mở gọi là đại cục.

“Tào thúc.” Ta giữ giọng bình thường. “Rương này còn ở hậu khố?”

Mặt Tào quản sự trắng đi một chút. “Công tử, cái này… lão nô không quản hậu khố. Chìa ở lão gia chủ, người ngoài không được hỏi.”

“Ta chỉ hỏi sổ.” Ta khép hồ sơ lại. “Sổ nói nó ở đó.”

Ông nhìn ta, trong mắt có chút thương hại lẫn sợ hãi. “Sổ nhiều khi cũng không cứu được người, công tử.”

Ta bỗng nhớ Thẩm Kính nói, một trang giấy không chặn được dao. Người muốn ta dừng lại đều dùng cùng một lý do: nguy hiểm. Nhưng nếu chỉ vì nguy hiểm mà để người chết tiếp tục mang tội, vậy sổ sách tồn tại để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để người sống đóng dấu lên nỗi oan của người chết?

Rời thư phòng phụ, ta đi về phía hậu khố từ đường. Đường đá sau tộc đường rất hẹp, hai bên trồng trúc già. Ta không mang nhiều người, chỉ gọi một gã sai vặt quen giữ đèn đứng ngoài ngã rẽ. Hậu khố bình thường khóa ba lớp, chìa chính ở Lộc quản gia, chìa niêm ở gia chủ. Nếu chiếc chìa đồng bên thắt lưng Lục Sùng thật sự là chìa rương, vậy rương đáng lẽ vẫn còn ở bên trong.

Nhưng cửa hậu khố đã mở hé.

Không phải mở rộng đến mức ai đi qua cũng thấy, mà chỉ hé một khe bằng hai ngón tay. Trên then đồng còn có vệt tay mới lau, bụi cũ bị quệt thành một đường sáng. Ta dừng lại dưới bóng trúc, nghe tim mình đập từng nhịp rất chậm. Người đến trước ta không phải tình cờ. Thẩm Kính vừa nhắc Tô Diên, tổ phụ vừa nói dối, chìa khóa vừa xuất hiện, hậu khố liền bị động. Đêm nay trong Lục gia, không chỉ có ta biết đồ vật sẽ nói thật.

Ta đẩy cửa bước vào.

Mùi gỗ mục, giấy cũ và hương trầm lạnh lập tức phủ xuống. Đèn trong tay ta soi qua từng hàng kệ, qua những hộp cũ phủ vải, qua bài vị chưa được đặt lên chính đường. Ở góc đông bắc, nơi sổ ghi “rương sơn đen”, chỉ còn một khoảng trống vuông vức trên nền bụi. Bốn góc in dấu chân rương rất rõ, bụi quanh đó dày, riêng chính giữa sạch đến chói mắt. Rương vừa bị lấy đi chưa lâu.

Ta ngồi xuống, đưa tay chạm vào vệt trống ấy. Bụi còn ấm vì bị kéo xê dịch, đầu ngón tay dính một chút sơn đen bong ra. Bên cạnh vết kéo có một sợi dây lụa xanh rất mảnh, giống hệt màu dây buộc trên chiếc chìa khóa của Lục Sùng, nhưng đã bị cắt đứt.

Phía ngoài hậu khố bỗng vang lên tiếng bước chân rất nhẹ.

Ta tắt đèn trong tay.

Trong bóng tối, có người dừng trước cửa, thở một hơi rất khẽ. Rồi một giọng quen thuộc mà ta không nên nghe thấy vào lúc này vang lên sau tấm cửa gỗ: “Công tử đã vào trong rồi sao?”