Chương 25: Bóng Dưới Gác Chuông
Tiếng chuông canh tư đã tan rất lâu mà trong sân Vĩnh Ninh cung vẫn như còn một vòng âm lạnh treo dưới mái hiên. Mưa nhỏ lại, không đủ rửa sạch dấu kéo hòm trên nền đá, chỉ khiến vệt nước cũ và mới lẫn vào nhau, nhìn qua tưởng như một nét mực bị người dùng tay miết dài. Tạ Uyển ngồi bên án, trước mặt là bản hồi bẩm đã đóng dấu thời khắc, bên cạnh là ba tờ lời bẩm lệch nhau. Đầu gối nàng đau âm ỉ, nhưng nàng không dám duỗi thẳng chân quá lâu; chỉ cần thân thể lộ ra chút mệt, người khác sẽ lập tức thay nàng quyết định điều gì nên bỏ, điều gì nên nhận.
Phó Cẩn đứng ngoài rèm châu, vừa trở lại từ cửa viện. Áo choàng cấm quân của hắn thấm hơi sương, thanh đao bên hông được đặt hơi lệch, như chủ nhân của nó cũng vừa đi qua một câu trả lời không dễ nghe. “Khôn Nghi cung nhận bản hồi bẩm,” hắn nói, giọng thấp. “Nhưng truyền lại một câu: sáng nay đối chiếu hòm, A Nhiễm phải có mặt.”
A Nhiễm trong nội thất khẽ nấc một tiếng, lập tức bị chính nàng cắn môi nuốt xuống. Tạ Uyển không quay đầu. “Có mặt để nhận diện việc mình từng làm, hay có mặt để người khác nhìn sắc mặt nàng rồi viết thêm câu thứ tư?”
Phó Cẩn nhìn nàng. “Tạ nữ quan định từ chối?”
“Ta định hỏi đúng quy chế.” Tạ Uyển đẩy sổ giao nhận ra trước, chỉ vào dòng hòm thứ hai. “Đối chiếu hòm lễ cần người chưởng lễ, người giữ ấn, người chứng nhận thời khắc và chủ cung. Cung nữ phụ hầu không thuộc bốn vị trí ấy. Nếu muốn gọi A Nhiễm, phải ghi rõ nàng được gọi với thân phận người chứng kiến, không phải người bị thẩm.” Nàng dừng một chút, đầu bút chạm vào mép giấy. “Chữ khác nhau, mạng cũng khác nhau.”
Lý Chiêu Nghi đứng sau rèm, đôi mắt bị ánh đèn làm nhạt đi, nhưng không hề tản. “Vậy ghi thêm vào bản phụ,” nàng nói. “Vĩnh Ninh cung chấp thuận A Nhiễm có mặt sau khi mở biên bản đối chiếu, trước đó nàng ở nội thất, do ta quản.”
Tạ Uyển ngẩng mắt nhìn nàng. Một câu ấy nghe như giữ người trong cung, thật ra là tự đem danh phận công chúa đặt lên đầu cung nữ. Khôn Nghi có thể nói Chiêu Nghi che chở người dưới, nhưng không thể nói một công chúa không có quyền giữ cung nữ của chính mình trước khi biên bản mở. Nàng cúi đầu viết. Khi nét mực cuối khô, Mạnh cô cô bỗng khàn giọng: “Nếu muốn xem gác chuông, phải đi trước lúc người Khôn Nghi vào viện.”
Trong phòng lặng xuống.
Tạ Uyển không lập tức hỏi vì sao. Nàng chỉ nhìn chùm chìa khóa bên hông Mạnh cô cô. Tối qua, khi A Nhiễm nhắc đến hốc tường sau gác chuông, sắc mặt Mạnh cô cô đã đổi. Đó không phải vẻ kinh ngạc của người lần đầu nghe chuyện cũ, mà là vẻ của người tưởng một cánh cửa đã mục nát trong ký ức, nay bỗng bị ai gõ từ phía bên trong.
“Mạnh cô cô biết gì về gác chuông?” Tạ Uyển hỏi.
Mạnh cô cô cúi mắt. “Năm Thừa Đức thứ tư, sau khi Thục phi nương nương mất, gác chuông Vĩnh Ninh bị khóa. Trên danh nghĩa là chuông nứt, âm không lành. Nhưng trước khi khóa, từng có người của Nội Lễ ty đến thu dọn đồ cũ, nói là tránh để vật của tiên phi làm điện hạ thương tâm.” Bà nói đến đây thì dừng, bàn tay già nua siết chặt chìa khóa. “Khi ấy nô tỳ không còn hầu trong nội điện, chỉ nghe Tố Liên cãi một câu với họ. Nàng nói hương không sai. Sau đó nàng bị gọi đi.”
Bốn chữ ấy rơi xuống, như mưa đọng trên mái ngói bỗng nhỏ vào gáy người. Hương không sai. Tạ Uyển nhớ mảnh mật thư trong áo cưới, nhớ dòng bệnh án bị sửa, nhớ chiếc hòm có vết đốt dưới đáy. Nàng không vội mừng vì một manh mối được nối liền; trong cung, manh mối càng khớp, người giữ nó càng dễ đã chết từ lâu.
“Không thể tự ý lục cung cũ,” Phó Cẩn nhắc, nhưng giọng hắn không có ý ngăn đến cùng.
Tạ Uyển nhìn ra ngoài. Trời phía đông mới chỉ nhạt hơn một lớp, khoảng tối dưới mái gác chuông còn đen như mực chưa mài. “Không lục,” nàng nói. “Đối chiếu khóa.”
Phó Cẩn nhướng mày rất khẽ.
“Gác chuông là kho cũ thuộc Vĩnh Ninh, đã khóa nhiều năm. Sáng nay hòm lễ nhập Vĩnh Ninh bị nghi dịch vị, Khôn Nghi đòi đối chiếu hòm. Trước khi mở hòm, chủ cung kiểm lại các khóa cũ quanh nơi đặt hòm để xác nhận không có đường phụ vận chuyển vật phẩm.” Tạ Uyển nói từng chữ chậm, như đang đặt đá lên một lối đi hẹp. “Điện hạ có quyền kiểm cung mình. Ta có trách nhiệm ghi. Phó thống lĩnh có thể làm chứng chúng ta không lấy vật ra ngoài biên bản.”
Lý Chiêu Nghi bước ra trước. “Đi.”
Không ai hỏi thêm. Mạnh cô cô lấy chiếc chìa khóa nhỏ nhất trong chùm. A Nhiễm cũng muốn bước theo, nhưng Tạ Uyển chỉ liếc nàng một cái. “Ngươi ở lại. Người nhớ đường không nhất thiết phải tự đưa cổ vào tay người khác. Lát nữa nếu cần nhận, ta hỏi từng vị trí, ngươi đáp trong biên bản.”
A Nhiễm đỏ mắt gật đầu. Lý Chiêu Nghi đi ngang qua nàng, dừng lại rất ngắn. “Đóng cửa nội thất. Ai gọi cũng không mở, trừ khi nghe tiếng ta đọc đủ ba chữ ‘rèm châu rơi’.” Đó không phải mật lệnh cầu kỳ, chỉ là một cách để kẻ bên ngoài không thể giả một câu gọi thông thường. Tạ Uyển nghe thấy, lòng khẽ động. Chiêu Nghi luôn khiến người khác tưởng nàng đang được che chở, nhưng thật ra mỗi bước nàng đều tự đặt thêm một chốt khóa cho người sau lưng.
Gác chuông ở góc tây Vĩnh Ninh, thấp hơn những lầu chuông trong cung lớn, mái cong phủ rêu, cột gỗ sẫm màu vì mưa nhiều năm. Khi Mạnh cô cô mở khóa, bụi ẩm rơi xuống thành một mùi cũ, vừa như gỗ mục vừa như hương trầm đã tắt từ rất lâu. Bên trong tối, chiếc chuông đồng treo giữa xà ngang, một đường nứt mảnh chạy từ vai chuông xuống gần miệng, như vết thương bị ép im lặng.
Tạ Uyển không bước vội vào. Nàng bảo Phó Cẩn đứng ở cửa, Mạnh cô cô giữ đèn, Lý Chiêu Nghi ở phía trong nhưng không chạm tay vào tường. Rồi nàng mở sổ, ghi rõ thời khắc, người có mặt, lý do kiểm khóa. Mỗi chữ viết ra đều chậm hơn bình thường. Không phải vì nàng sợ người khác thấy, mà vì nàng cần chính trang giấy này đứng được trước mắt Hoàng hậu sáng nay.
“Hốc tường sau gác chuông,” nàng nói. “Mạnh cô cô, sau lưng chuông có chỗ nào từng vá lại không?”
Mạnh cô cô đưa đèn sang trái. Ánh sáng lướt qua lớp tường loang lổ, dừng ở một viên gạch thấp hơn tầm tay một chút. Mép gạch ấy không đều, vữa quanh nó sẫm màu hơn phần bên cạnh. Tạ Uyển cúi xuống nhìn rất lâu. Nếu A Nhiễm nói dối, nàng không thể biết một chỗ vá kín như vậy; nếu A Nhiễm nhớ sai, dấu vữa cũng không vừa khớp đến thế.
“Đừng dùng dao,” Tạ Uyển nói với Phó Cẩn khi thấy tay hắn đặt lên chuôi đoản nhận. “Dấu mới sẽ thành dấu của chúng ta.”
Nàng tháo chiếc trâm gỗ đơn giản trên búi tóc, dùng đầu trâm đẩy nhẹ vào khe vữa đã mục. Lớp vữa vụn ra từng hạt nhỏ. Phó Cẩn im lặng lấy một mảnh thẻ tre mỏng đưa tới, không nói mình đã chuẩn bị từ lúc nào. Tạ Uyển nhận lấy, cẩn thận nạy mép gạch. Viên gạch dịch ra không nhiều, chỉ đủ lộ một khoảng tối nhỏ sau tường.
Không có gói vải.
Mạnh cô cô thở hụt một hơi. Lý Chiêu Nghi vẫn yên lặng, nhưng ngón tay giấu trong tay áo đã siết lại. Tạ Uyển nhìn khoảng rỗng ấy, trong lòng không nhẹ đi cũng không nặng thêm. Nếu một vật đã nằm ở đây mười hai năm, điều đáng sợ không phải là nó còn nguyên, mà là đã có người đến lấy trước khi họ kịp biết nó từng tồn tại.
“Đèn thấp xuống,” nàng nói.
Ánh sáng dịch xuống. Ở đáy hốc, nơi bóng chuông che một góc không dễ thấy, có một sợi chỉ bám vào gờ gạch. Rất nhỏ, màu xanh đã phai gần thành xám. Tạ Uyển dùng trâm kéo ra. Sợi chỉ vướng theo một mảnh lụa bằng nửa ngón tay, mép rách mục, trên mặt có vệt ố nâu nhạt. Vệt ố ấy không giống bùn, cũng không giống mực. Khi đưa lại gần đèn, mùi hương rất nhạt nổi lên, ngọt lạnh, rồi biến mất nhanh như chưa từng có.
Mạnh cô cô che miệng. “Đây là lụa lót túi hương của Thục phi nương nương. Năm đó trong Vĩnh Ninh chỉ người bên cạnh nương nương mới được dùng sắc lụa này.”
Tạ Uyển lập tức gấp mảnh lụa vào giấy trắng, không để ai chạm thêm. “Không ghi là túi hương,” nàng nói. “Chỉ ghi: trong hốc tường sau gác chuông phát hiện một mảnh lụa cũ có vệt ố, chờ y quan nghiệm.”
Phó Cẩn nhìn nàng. “Tạ nữ quan không tin Mạnh cô cô?”
“Ta tin,” Tạ Uyển đáp. “Nhưng biên bản không được tin ai trước khi vật chứng biết nói.”
Đúng lúc ấy, ngoài sân vang lên tiếng bước chân dồn dập. Một nội thị mặc áo Khôn Nghi dừng trước cửa gác chuông, cúi mình rất thấp nhưng lời nói lại cứng như lệnh: “Hoàng hậu nương nương truyền, gác chuông cũ Vĩnh Ninh lâu năm hư mục, từ giờ khắc này niêm phong, không ai được tự ý ra vào. Mời công chúa và Tạ nữ quan lập tức đến tiền viện đối chiếu hòm.”
Tạ Uyển khép sổ. Trên trang giấy, mực ghi thời khắc phát hiện mảnh lụa vừa kịp khô. Nàng nhìn bóng chuông đổ dài trên nền gạch, rồi nhìn mảnh giấy trắng trong tay áo mình. Bên ngoài trời đã sáng, nhưng dưới gác chuông, thứ mùi ngọt lạnh kia như vẫn còn bám vào đầu ngón tay nàng.
Nàng biết, chiếc hòm dưới hiên chỉ là cửa trước. Cánh cửa sau vừa bị người của Khôn Nghi vội vàng đóng lại.
