Bỏ qua nội dung

Chieu Hoa Than

Chương 24 - Chương 24: Ba Câu Khai Lệch

Chương 24: Ba Câu Khai Lệch

Tạ Uyển đặt ba tờ lời bẩm lên án thấp, dùng chặn giấy bằng ngọc đè góc trên lại, như sợ chỉ một cơn gió cũng đủ thổi chúng bay vào miệng người khác thành tội. Ngoài hiên, mưa gõ lên nắp hòm sơn đen, đều và lạnh. A Nhiễm đứng sau lưng Lý Chiêu Nghi, mặt trắng đến mức ánh đèn chiếu qua tưởng như trong suốt.

Tạ Uyển không vội nói. Đầu gối nàng đau nhức từng cơn sau một đêm đứng quỳ lẫn lộn, nhưng cơn đau ấy trái lại khiến nàng tỉnh hơn. Nàng mở tờ thứ nhất, đọc lại dòng chữ còn ướt mực: cung nữ A Nhiễm tự ý tiến gần hòm trước lúc đèn tắt, hành tung khả nghi. Tờ thứ hai viết: A Nhiễm đánh rơi khay sổ, khiến hòm phải dịch vị để tránh nước trà và mực. Tờ thứ ba lại nói: A Nhiễm nhận nhầm hòm thứ nhất là hòm thứ hai, làm rối danh mục giao nhận. Ba tờ giấy, ba lưỡi dao. Nhưng nếu nhìn kỹ, ba lưỡi dao ấy không cùng một hướng.

Phó Cẩn đứng bên cạnh án, tay áo còn vương hơi mưa. Hắn nói: “Người đưa lời bẩm không chờ trả lời. Chỉ nói sáng mai Khôn Nghi cung sẽ lấy đây làm căn cứ hỏi người.” Tạ Uyển khẽ gật đầu, rút một tờ giấy trắng từ dưới sổ giao nhận ra. “Không cần họ chờ. Người vội để lại lời, thường sợ lời ấy bị hỏi ngay tại chỗ.” Nàng chấm bút, viết ba chữ: lúc, chỗ, cớ. Mạnh cô cô nhìn ba chữ ấy, rồi nhìn sắc mặt A Nhiễm, bàn tay vô thức siết chùm chìa khóa bên hông.

“Tờ thứ nhất nói trước lúc đèn tắt,” Tạ Uyển nói, giọng không cao nhưng đủ để cả sân nghe rõ. “Khi ấy ai cầm đèn?” Mạnh cô cô lập tức đáp: “Nô tỳ giữ một ngọn ở cửa nội thất. Hai cung nữ khác giữ đèn dưới hiên. A Nhiễm lúc ấy đang ở bên án, phụ nô tỳ đối danh mục.” A Nhiễm run lên, như muốn xác nhận, nhưng Tạ Uyển đã nhìn nàng một cái, ý bảo chưa đến lượt nàng tự cứu mình bằng lời. Trong lúc này, người càng sợ càng dễ nói thừa; mà lời thừa chính là dây người khác đang chờ buộc cổ nàng.

Tạ Uyển viết xuống: trước lúc đèn tắt, A Nhiễm ở cạnh án, có Mạnh cô cô và hai cung nữ thấy. Nàng lại mở tờ thứ hai. “Tờ này nói A Nhiễm đánh rơi khay sổ, khiến hòm phải dịch vị. Nhưng hòm dịch vị từ khi nào?” Phó Cẩn đáp trước: “Trước lúc ta đến sân, hòm đã lệch khỏi dấu nước cũ trên nền.” Hắn chỉ mắt về phía mái hiên. “Nếu khay rơi sau đó mới khiến hòm dịch vị, người viết tờ này phải giải thích vì sao dấu kéo đã có trước.” Tạ Uyển ghi thêm một dòng, đầu bút đi rất chậm: nguyên nhân sau không thể sinh dấu trước.

Lý Chiêu Nghi bỗng lên tiếng từ sau rèm: “Khay của A Nhiễm không có mực.” Mọi người quay nhìn nàng. Chiêu Nghi vẫn đứng rất thẳng, áo ngoài khoác vội nhưng cổ tay áo được giữ ngay ngắn đến lạnh người. “Tối nay ta bảo nàng lấy sổ phụ và thẻ gỗ, không lấy nghiên. Nghiên đặt trên án của Tạ nữ quan. Nếu bản bẩm nói nước trà và mực đổ từ khay của nàng, người viết chưa từng nhìn thấy chiếc khay ấy.” Một câu rất nhẹ, nhưng như lưỡi kim xuyên đúng lỗ vải. A Nhiễm cúi đầu sâu hơn, nước mắt rơi xuống mà không dám phát ra tiếng.

Tạ Uyển không nhìn Chiêu Nghi lâu. Trong cung, lòng biết ơn nếu hiện ra quá rõ cũng có thể thành nhược điểm. Nàng chỉ cúi bút, ghi: khay không có nghiên, không thể đổ mực. Rồi nàng nhấc tờ thứ ba lên. Tờ này viết bằng nét chữ ngay ngắn nhất, cũng là tờ làm nàng thấy không ổn nhất. Một tiểu lại Lễ bộ biết gọi hòm thứ nhất, hòm thứ hai, biết danh mục giao nhận rối ở chỗ nào, lại cố ý đổ cái rối ấy lên một cung nữ Vĩnh Ninh.

“A Nhiễm,” Tạ Uyển cuối cùng gọi. “Tối nay ngươi có tự tay đổi số hòm trong sổ không?” A Nhiễm lắc đầu rất mạnh, môi run đến không thành lời. Tạ Uyển không để nàng nói thêm, quay sang Phó Cẩn. “Theo lệ Nội Lễ, người được sửa thứ tự hòm lễ là ai?” Phó Cẩn đáp: “Nữ quan chưởng lễ phụ trách việc giao nhận, hoặc người giữ ấn danh mục của Nội Lễ ty. Cung nữ phụ hầu chỉ được đọc, bê, ghi theo lệnh.” “Vậy nếu sổ rối,” Tạ Uyển nói, “người trước hết phải hỏi là ta, không phải A Nhiễm.”

Câu ấy rơi xuống sân làm mấy cung nữ đồng loạt nín thở. Tự kéo mũi nhọn về mình là việc nguy hiểm, nhưng Tạ Uyển biết nếu nàng không đứng ở vị trí đúng, A Nhiễm sẽ bị ép vào một vị trí vốn không có trong quy chế. Nàng không nhận tội. Nàng chỉ buộc mọi người nhớ rằng lỗi sổ lễ phải đi qua nữ quan chưởng lễ trước khi chạm đến một cung nữ. Đêm nay, nàng cần bức tường ấy chắn trước một người đang run đến không còn sức tự đứng.

Phó Cẩn nhìn nàng, ánh mắt thoáng đổi. “Tạ nữ quan định làm gì?” Tạ Uyển xếp ba tờ lời bẩm theo thứ tự vừa đọc, đáp: “Không bác từng tờ. Bác từng tờ thì sáng mai họ chỉ cần bỏ hai tờ yếu, giữ một tờ mạnh. Ta muốn họ mang cả ba tờ vào sổ.” Nàng đặt bút viết một bản hồi bẩm mới, từng chữ rõ ràng: Vĩnh Ninh cung đã nhận ba lời bẩm từ hai nội thị và một tiểu lại Lễ bộ; do nội dung về thời điểm, vị trí và nguyên nhân không thống nhất, xin Khôn Nghi cung giữ nguyên bản, sáng mai đối chiếu trước mặt người chứng kiến, không được lấy riêng một bản làm căn cứ thẩm vấn cung nữ.

Mạnh cô cô hít vào một hơi. “Làm vậy chẳng phải ép Khôn Nghi cung nhận rằng lời bên họ có sai sao?” Tạ Uyển đáp: “Không. Chỉ là xin đối chiếu.” Nàng dừng bút, ngẩng mắt nhìn ra chiếc hòm dưới hiên. “Nếu họ muốn dùng lời bẩm để lấy người, trước hết phải cho lời bẩm đứng vững. Nếu ba câu khai tự đá nhau, người bị hỏi không phải A Nhiễm, mà là người dạy họ nói ba cách khác nhau.”

Lý Chiêu Nghi bước ra khỏi rèm. Đêm gần sáng, gương mặt nàng nhợt nhạt, nhưng vẻ mệt mỏi ấy không làm nàng yếu đi, chỉ khiến sự bình tĩnh trên người nàng càng giống một lớp băng mỏng đã chịu rét quá lâu. Nàng nói: “Bản hồi bẩm lấy danh nghĩa Vĩnh Ninh cung gửi đi. Ta ký trước.” Tạ Uyển hơi nhíu mày. “Điện hạ, nếu ký, Khôn Nghi sẽ nói Vĩnh Ninh cung che chở cung nữ.” Chiêu Nghi nhìn nàng, đáy mắt có một tia đau rất kín. “Họ vốn đã nói vậy. Nếu ta không ký, sáng mai họ sẽ nói người của ta sợ đến mức phải để nữ quan Nội Lễ đứng thay.”

Tạ Uyển im lặng một thoáng. Nàng hiểu Chiêu Nghi không chỉ bảo vệ A Nhiễm. Nàng đang tự đặt mình vào sổ, ép người khác không thể lặng lẽ kéo một cung nữ đi trong đêm rồi bảo rằng công chúa không hay biết. Đây không phải liều vì thương xót, mà là dùng danh phận bị xem nhẹ nhất để giữ một khe sáng nhỏ trong cung quy. Tạ Uyển đưa bút qua. Khi đầu ngón tay hai người thoáng chạm nhau, rất nhẹ, cả hai đều không nhìn xuống. Có những điều không thể nói, nhưng vẫn có thể truyền qua một nhịp dừng ngắn như vậy.

Chiêu Nghi ký tên mình dưới bản hồi bẩm. Chữ nàng mảnh, thẳng, không run. Phó Cẩn lấy lệnh bài của cấm quân làm chứng thời khắc nhận bản, đóng dấu phụ ở mép giấy. Mạnh cô cô lập tức gọi một cung nữ lớn tuổi đem bản sao ra cửa viện, giao cho thị vệ của Phó Cẩn chuyển đến cửa Khôn Nghi. Tạ Uyển giữ nguyên bản ở lại, kẹp cùng ba tờ lời bẩm dưới sổ giao nhận. Tờ giấy này chưa đủ thắng Hoàng hậu, nhưng đủ ngăn một bàn tay thò vào Vĩnh Ninh trước trời sáng.

A Nhiễm lúc này mới quỳ xuống, trán chạm nền đá lạnh. “Nô tỳ làm liên lụy điện hạ, liên lụy Tạ nữ quan.” Lý Chiêu Nghi nhìn nàng, giọng nhạt mà mềm: “Ngươi liên lụy chúng ta vì ngươi còn sống để nói thật. Vậy thì sống cho cẩn thận.” A Nhiễm nghẹn lại, không dám khóc thành tiếng. Tạ Uyển khép sổ, nói: “Từ giờ đến lúc sáng, ngươi chỉ ở trong nội thất. Ai hỏi, ngươi nói Tạ nữ quan đã ghi nhận dạng vật, mọi lời khác đợi đối chiếu. Không nhắc Tố Liên. Không nhắc hương. Không nhắc gói vải.”

Hai chữ gói vải vừa ra, vai A Nhiễm bỗng cứng đờ. Tạ Uyển lập tức nhận ra. “Ngươi nhớ thêm điều gì?” A Nhiễm ngẩng đầu, mắt đỏ hoe nhìn Mạnh cô cô rồi lại nhìn Chiêu Nghi, như sợ câu tiếp theo sẽ kéo thêm một người chết trở về. “Nô tỳ khi đó không mang gói vải ra khỏi kho,” nàng nói rất nhỏ. “Nhưng sau khi Tố Liên tỷ tỷ bị gọi đi, nô tỳ sợ quá, giấu nó vào hốc tường sau gác chuông cũ. Về sau Vĩnh Ninh đổi người, gác chuông bị khóa. Nô tỳ tưởng chuyện ấy… tưởng chỉ là ít chỉ vụn, nên không dám nhắc nữa.”

Trong sân, tiếng mưa đột nhiên trở nên rõ hơn. Tạ Uyển thấy lòng bàn tay mình lạnh đi. Gói vải nhỏ, câu “hương không sai, sổ sai”, chiếc hòm có ba vết đốt, và một gác chuông cũ bị khóa suốt mười hai năm. Mạnh cô cô sắc mặt biến hẳn, chùm chìa khóa bên hông va vào nhau một tiếng khẽ. Phó Cẩn nhìn về phía tường tây của Vĩnh Ninh, nơi bóng mái gác chuông lẫn trong màn mưa đêm như một người im lặng đứng chờ.

Tạ Uyển chống tay lên án đứng dậy. Đầu gối đau đến mức trước mắt nàng tối đi một thoáng, nhưng giọng nàng vẫn giữ được bình ổn. “Không ai ra đó lúc này,” nàng nói. “Trời chưa sáng, hòm chưa đối chiếu, người của Khôn Nghi còn đang nhìn cửa viện. Chúng ta chỉ ghi lại: A Nhiễm nhớ có vật cũ ở gác chuông, chưa kiểm.” Nàng cầm bút, viết thêm một dòng rất nhỏ dưới trang sổ mới. Mực vừa thấm xuống giấy, bên ngoài cửa viện bỗng vang lên tiếng chuông canh tư xa xa. Dưới âm chuông ấy, bóng gác chuông cũ ở tường tây như đậm thêm một lớp, còn Tạ Uyển biết, khi trời sáng, nơi đầu tiên họ phải nhìn không còn là chiếc hòm dưới hiên nữa.