Chương 37 - Chương 37: Không Phải Ai Cũng Ác
Chương 37: Không Phải Ai Cũng Ác
Nửa thẻ gỗ nằm trong lòng bàn tay A Tịch, cạnh cháy sém cọ vào vết xước cũ đau rát như có ai dùng kim châm dưới da. Chữ Dược nhỏ đến mức phải nghiêng dưới ánh đèn dầu mới nhìn rõ, vậy mà nó nặng hơn cả then cửa lãnh cung. Ngoài sân, tiếng chuông đổi canh còn ngân trong sương. Mỗi tiếng ngân như đếm thay nàng: trước canh tư, hũ tro sẽ bị lục; trước trời sáng, Nội đình sẽ quay lại; trước khi tất cả xảy ra, Bạch Đào có thể đã bán thêm một câu về người chết ăn cơm lạnh. Lục ma ma kéo vạt áo cũ che khe cửa, giọng khàn đi vì sợ. “Đừng đuổi theo. Người bán tin đã lộ mặt thì không còn là người nữa, chỉ là cái miệng của kẻ khác.”
A Tịch không đáp ngay. Nàng đặt nửa thẻ gỗ lên chiếc bàn gãy chân, dùng mảnh vải bọc lại, rồi quay về phía bếp lạnh. Hũ tro vẫn nằm trong góc, miệng hũ phủ một lớp bụi xám mỏng. Trong đó có mảnh vải thêu, thảo quả khô, bạch chỉ và vài thứ Tố Liên đã dùng mạng để giữ lại. Nếu người của Thường công công thật sự vào đây, thứ đầu tiên họ tìm sẽ là hũ tro. Nếu nàng ôm hũ chạy, nàng sẽ tự biến mình thành dấu chân. Còn nếu để nguyên, những gì Tố Liên chết vẫn không buông sẽ rơi vào tay kẻ từng đốt lãnh cung một lần.
“Ma ma,” nàng nói, “trong lãnh cung còn hũ tro nào khác không?” Lục ma ma nhìn nàng như không hiểu. Tạ Uyển Nghi ngồi cạnh bát cơm lạnh bỗng lẩm bẩm: “Tro nào cũng là tro. Xương nào cũng là xương. Người ác thích tìm thứ có tên.” A Tịch khựng lại vì câu nói ấy. Lời của người điên nhiều khi giống nước đục, nhìn gần chỉ thấy bùn, nhưng lắng xuống lại có thể soi ra đáy. Người ác thích tìm thứ có tên. Họ nghe nói hũ tro, nên sẽ tìm hũ tro; nghe nói vật chứng, nên sẽ tìm vật chứng. Nhưng Tố Liên từng sống cả đời giữa những thứ không ai gọi tên: cơm thừa, áo rách, dây buộc củi, mùi thuốc dính trong tay áo.
Lục ma ma cuối cùng hiểu ý nàng. Bà run rẩy chỉ về phía sau vách, nơi có ba chiếc hũ nứt dùng đựng tro bếp từ nhiều năm trước. A Tịch không lãng phí thời gian. Nàng đổ một phần tro mới vào hũ cũ, bỏ vào đó vài sợi vải cháy, một nhánh bạch chỉ vụn và chút thảo quả đã mất mùi. Những thứ đủ để kẻ lục soát tin rằng mình tìm đúng chỗ, nhưng không đủ để nối thành chứng cứ. Phần thật, nàng bọc riêng trong mảnh vải áo, ép sát dưới viên gạch lỏng bên chân bệ thờ cũ. Viên gạch ấy không ở trong bếp, không gần cửa, cũng không sạch sẽ. Người vào đây với đèn và lệnh chỉ sẽ ghê tay trước những góc bẩn không hứa hẹn công lao.
Khi nàng nhấc viên gạch lên, bên dưới có một mảnh vải nhỏ đã mục, thơm rất nhạt. Không phải mùi thuốc, cũng không phải mùi son. Đó là mùi túi hương rẻ tiền trộn với tro ẩm, thứ mùi từng thoáng qua trên cổ tay Bạch Đào lúc nãy. Tạ Uyển Nghi bỗng ngẩng đầu, đôi mắt mờ đục dính vào mảnh vải như bị kéo bằng sợi dây vô hình. “Áo đào đừng đeo hương,” bà ta thì thào. “Đeo hương thì chó biết đường. Không đeo thì roi biết lưng.” Lục ma ma tái mặt. A Tịch quay sang bà. “Túi hương này là của ai?”
Lục ma ma nuốt khan. “Tố Liên làm.” Bà ngồi xuống cạnh bệ thờ, đầu gối kêu khẽ trên nền đá. “Năm đó Bạch Đào còn nhỏ, mới mười mấy tuổi, chạy việc kho bếp. Nó hay bị sai đưa cơm thừa qua cửa bắc, trên người lúc nào cũng có mùi nước nhuộm áo đào. Đám thái giám nhận ra mùi đó, gọi nó như gọi một con vật. Tố Liên thương nó, lấy bã thuốc phơi khô may vào túi hương, bảo đeo vào thì át được mùi vải. Sau này có một lần nó chuyển nhầm lời, Tố Liên bị phạt quỳ thay. Ta mắng Tố Liên ngu. Nó chỉ cười, nói trẻ con trong cung nếu ngay từ đầu đã bị dạy cách bán mạng, lớn lên sẽ tưởng đó là đường sống duy nhất.”
A Tịch siết mảnh vải mục. Trong ngực nàng có thứ gì vừa lạnh vừa nặng lặng lẽ chìm xuống. Nàng không muốn thương Bạch Đào. Thương một người từng bán tin là chuyện nguy hiểm; người yếu không vì yếu mà tự nhiên sạch tội. Nhưng ký ức về Tố Liên không cho nàng chọn dễ dàng. Tố Liên không phải người không biết đau. Nếu tỷ ấy từng che cho Bạch Đào, hẳn không phải vì ngu, mà vì nhìn thấy phía sau đồng bạc có một cái lưng từng bị roi dạy cách cúi xuống.
“Không phải ai cũng ác,” Lục ma ma nói rất khẽ, như tự biện hộ cho cả một đời im lặng. “Nhưng trong cung này, không ác cũng có thể hại người.” A Tịch gật đầu. “Vậy phải để nàng ta trả giá bằng việc còn sống, không phải bằng việc chết thay ai.” Nàng lấy mảnh túi hương mục buộc vào một sợi chỉ rút từ tay áo, treo sát khe cửa bắc. Đó không phải lời mời công khai. Người không biết sẽ tưởng là giẻ rách bị gió mắc lại. Người từng được Tố Liên cứu sẽ nhận ra nó. Nếu Bạch Đào đã đi xa, nàng ta sẽ không quay lại. Nếu còn quanh đây để chờ bán thêm tin, nàng ta sẽ phải lựa chọn lần nữa.
Gió ngoài cửa ngừng một lúc lâu. A Tịch nấp trong bóng tối, một tay giữ nửa thẻ Dược, một tay đặt lên cán dao nhỏ giấu trong tay áo. Vết thương bên sườn âm ỉ nhưng nàng không dám thở mạnh. Lục ma ma ôm Tạ Uyển Nghi lùi vào sau chum nước. Người phụ nữ điên vẫn nhìn mảnh túi hương, môi mấp máy những chữ rời rạc: “Đừng bán hương. Bán hương thì không còn đường về.” A Tịch nghe mà lòng se lại. Có lẽ trong trí nhớ vỡ vụn của Tạ Uyển Nghi, Bạch Đào không chỉ là người đưa cơm. Nàng ta từng đứng ở cửa bắc đúng vào đêm nào đó, đêm mà long thai, bệnh án và cái chết của nhiều cung nữ bắt đầu bị chôn dưới tro.
Một bóng người cuối cùng hiện ra sát khe cửa. Bạch Đào không luồn tay vào trước như lần trước. Nàng ta đứng bên ngoài, thở rất nhanh, giọng nhỏ đến mức gần như bị sương nuốt mất. “Túi hương đó ở đâu ra?” A Tịch không bước ra ánh sáng. “Tố Liên để lại.” Bạch Đào im lặng. Một lúc sau, tiếng móng tay cào nhẹ lên gỗ vang lên, không phải để mở cửa mà như để tự nhắc mình còn đứng được. “Tố Liên tỷ đã chết rồi. Đừng dùng đồ của người chết gọi ta.” “Ngươi cũng đang dùng cái chết của tỷ ấy để sống,” A Tịch nói. “Ta không giao ngươi cho Nội đình, cũng không hét tên ngươi cho lính canh nghe. Nhưng từ giờ, mỗi tin ngươi bán cho Thường công công, ngươi phải để lại cho ta một tin thật. Không thêm, không bớt. Một lần lừa, ta sẽ đem tên Bạch Đào viết vào lời khai của Lục ma ma, để cả hai bên đều biết ngươi đã nhận bạc của ai.”
Bên ngoài khe cửa, Bạch Đào bật ra một tiếng cười nghẹn, không giống vui mà giống bị bóp cổ. “Ngươi tha ta như vậy cũng gọi là tha?” A Tịch đáp: “Trong cung này, được chọn cách trả nợ đã là tha rồi.” Bạch Đào không nói nữa. Từ sau vách, Lục ma ma nhắm mắt, có lẽ vì nhận ra trong câu ấy có cả số phận của chính bà. A Tịch cũng nhận ra. Nàng không đứng ở nơi cao sạch để phán xét người khác. Nàng chỉ là một người đã chết chưa chịu nằm yên, đang dùng những mẩu tin bẩn để giữ một chút sự thật không bị chôn mất.
“Trước canh tư ai vào?” nàng hỏi. Bạch Đào hít sâu. “Không phải Triệu cô cô. Người của bà ta chỉ kiểm ngoài mặt. Người thật sự vào là Tiểu Thuận, thái giám áo xám bên chỗ Thường công công. Hắn có chìa phụ, không đi cổng chính. Hắn sẽ lục bếp trước, nếu thấy hũ tro có bạch chỉ và thảo quả sẽ đem đi, không hỏi thêm. Thường công công cần một thứ để báo lên trên rằng lãnh cung vẫn còn dấu thuốc. Ông ta không cần biết đầy đủ ngay, chỉ cần đủ lý do kéo Ty Dược vào cuộc.” Tim A Tịch trầm xuống. Kéo Ty Dược vào cuộc nghĩa là kéo Giang Nhược vào vùng sáng. Chỉ một lời cáo buộc mơ hồ cũng đủ biến nữ thái y trẻ thành người bị gọi tên trước Nội đình.
“Vì sao ngươi nói cho ta?” A Tịch hỏi. “Vì túi hương đó.” Bạch Đào đáp quá nhanh, rồi như sợ mình đã yếu đi, nàng ta cắn lại bằng một câu khác. “Vì ta cũng không muốn chết.” A Tịch nghe ra cả hai đều thật. Nàng đặt nửa thẻ Dược lên nền đá sát khe cửa, nhưng không đẩy ra ngoài. “Nửa còn lại ở đâu?” Bạch Đào cúi xuống nhìn, bóng nàng ta che mất một vệt sương. “Không ở tay Thường công công. Ông ta đang tìm nó. Nửa thẻ này là thứ người khác ném ra để dẫn ông ta về kho thuốc.” “Người khác là ai?” Bạch Đào lắc đầu, rồi nhớ A Tịch không nhìn rõ, mới nói: “Ta chưa biết. Nhưng người đó biết đường từ lãnh cung sang Ty Dược cũ.”
A Tịch suýt hỏi ngay, nhưng kịp dừng. Tin thật phải có giá trị kiểm chứng. Nàng không thể để Bạch Đào dùng một câu mơ hồ kéo mình chạy trong đêm. “Đường nào?” Bạch Đào im rất lâu. Xa xa có tiếng lính canh đổi chân, tiếng giáo chạm đá khẽ vang lên. Cuối cùng nàng ta nói: “Cửa bắc không chỉ để đưa cơm. Sau nhà giặt cũ có một lối phụ, bị ván mục che lại. Mười hai năm trước, người đưa thuốc cho Tạ nương nương không đi cổng lãnh cung. Họ đi lối đó.” Lục ma ma sau lưng A Tịch bật thở như bị ai đánh vào ngực. Tạ Uyển Nghi bỗng ngẩng đầu, mắt mở to, trong mắt thoáng qua một tia tỉnh táo đáng sợ.
Bạch Đào lùi một bước, giọng run nhưng lần này không bỏ chạy ngay. “Ta chỉ biết mở từ bên ngoài. Nếu ngươi muốn giữ hũ tro thật, trước canh tư phải chuyển qua đó. Nhưng lối phụ không dẫn ra khỏi cung.” Nàng ta dừng lại, như từng chữ sau cùng đều có gai. “Nó dẫn thẳng đến chân tường phía sau Ty Dược.” A Tịch nhìn nửa thẻ gỗ trong tay mình, rồi nhìn về phía bếp lạnh nơi hũ tro giả đang chờ kẻ đến lấy. Trong một khoảnh khắc, nàng hiểu vì sao Tố Liên năm xưa không nỡ hỏi Bạch Đào đến cùng. Có những người không ác, nhưng biết đường đi của cái ác. Đêm nay, con đường ấy vừa mở ra dưới chân người chết.
