Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 14: Người Tráo Bài

Chương 14: Người Tráo Bài

Ta đứng ngoài cửa gia học, bàn tay còn đặt trên mép cửa lạnh, nhìn tờ giấy mang tên Lục Hoài Tranh nằm trên án Tần tiên sinh. Nếu là đứa trẻ mười hai tuổi thật sự, có lẽ lúc ấy đã xông vào, túm lấy cổ áo tiểu đồng mà hỏi vì sao bài của ta biến thành thứ văn chương nhạt như nước vo gạo. Tiếc rằng trong thân xác này lại là một kẻ từng thấy quá nhiều bản báo cáo bị sửa trước cuộc họp. Khi giấy đã nằm trên bàn người khác, người đầu tiên chạm vào nó thường không phải kẻ phạm lỗi, mà là người dễ bị đổ lỗi nhất.

Ta lùi nửa bước, để bóng mình khỏi in lên khe cửa, rồi khẽ ho một tiếng. Tiểu đồng trong phòng giật mình, tay lập tức đè lên xấp bài. Cử chỉ ấy quá nhanh, nhanh đến mức giống người giữ mèo ăn vụng hơn là người hong giấy tránh ẩm. Ta đẩy cửa bước vào, sắc mặt cố ý để tái đi một chút. Việc giả yếu có một điểm tốt: chỉ cần thở chậm hơn bình thường, người khác đã tự thay ta nghĩ ra lý do.

“Ta bỏ quên hộp bút.” Ta chỉ vào án của mình, không nhìn xấp giấy quá lâu. “Làm phiền ngươi.”

Tiểu đồng vội đáp: “Tam công tử cứ lấy. Tiên sinh dặn tiểu nhân trông bài, mưa to, sợ giấy bị ẩm.”

“Tiên sinh đâu?”

“Quản sự tiền viện mời đi một lát.” Hắn nói xong mới nhận ra mình đáp quá nhanh, liền cúi đầu thu lại mấy tờ giấy xô lệch. Tay áo hắn có một vệt mực dài, nhưng đầu ngón tay lại rất sạch. Người tự viết chữ mới thường bẩn đầu ngón, người chỉ bê giấy mới dễ bẩn tay áo. Ta đặt hộp bút vào tay áo, tầm mắt lướt qua tờ giấy mang tên mình. Mực dưới tên đã khô, nhưng đoạn văn bên dưới còn hơi bóng. Góc trái tờ giấy dính một chấm phấn hồng rất nhỏ, nhỏ đến mức nếu không có mưa làm nền trời tối lại, có lẽ ta cũng bỏ qua.

Ta hỏi như thuận miệng: “Bài của mọi người đều bị ẩm sao?”

Tiểu đồng lắc đầu: “Không, chỉ vài tờ ở trên cùng. Tiểu nhân sợ hỏng nên mới trải ra.”

Ta nhìn nghiên mực lớn trên án Tần tiên sinh. Lúc cuối giờ, chính tay ông đặt xấp bài dưới nghiên. Nếu chưa có người động vào, tờ nào ở trên cùng đáng lẽ phải là tờ thu sau cùng. Bài của ta nộp không sớm, cũng không muộn đến mức nằm trên đỉnh. Một người tráo bài không chỉ cần viết một tờ giả, mà còn phải biết đặt nó vào vị trí đủ dễ thấy, đủ khiến Tần tiên sinh tin rằng đó là bài ta nộp. Cẩn thận như vậy, lại để mùi son phấn dính lên giấy, thật giống kẻ khóa cửa xong quên mang chìa đi.

Ta lấy hộp bút, xoay người ra ngoài. Đi tới cửa, ta bỗng dừng lại, tựa như nhớ ra chuyện nhỏ. “Mực của ngươi thơm quá.”

Tiểu đồng ngẩn ra. “Mực? Tiểu nhân dùng mực trong gia học, làm gì có thơm.”

“Vậy chắc là ta ngửi nhầm.” Ta cười nhạt. “Thuốc đắng uống nhiều, mũi cũng hỏng.”

Ra khỏi gia học, mưa đã rơi thành sợi mảnh trước hiên. A Bình đứng dưới mái, thấy ta đi một mình liền chạy tới đỡ. “Công tử, lấy hộp bút thôi mà sao lâu vậy? Sắc mặt người khó coi lắm.”

“Thấy một con chuột.”

A Bình lập tức nhìn quanh. “Trong gia học cũng có chuột?”

“Có. Loại biết viết tên người khác.”

Hắn mở miệng, rồi rất thông minh mà ngậm lại. Ta thích điểm này ở A Bình. Hắn không hiểu hết, nhưng biết lúc nào không nên hỏi to. Ta bảo hắn đưa ta đi vòng qua hành lang phía tây, nơi cửa sổ gia học mở ra vườn trúc. Mưa vừa bắt đầu chưa lâu, nền gạch dưới mái vẫn còn giữ được vài dấu chân lộn xộn. Dấu guốc của tiểu đồng nhỏ và thẳng, vì hắn chạy qua chạy lại giữa án và cửa. Bên cạnh đó có một vệt ướt mảnh hơn, đầu dấu hơi nhọn, không giống giày của thiếu niên trong gia học. Người ấy đứng ngoài cửa sổ một lúc, sau đó đi về hướng nguyệt môn thông sang dãy viện của đại phòng.

Ta ngồi xổm xuống nhìn. Lưng đau đến mức trước mắt hơi đen, nhưng ta không đứng dậy ngay. Trên bậc đá cạnh cửa sổ có một vệt bột phấn bị mưa đánh loang. Mùi hương rất nhạt, giống hoa phù dung trộn với son đậu khấu. Lục gia không cấm nha hoàn dùng hương, nhưng trong gia học toàn thiếu niên và thầy đồ, một mùi hương như thế xuất hiện ở cửa sổ còn kỳ hơn việc bánh quế tự mọc chân chạy vào từ đường.

A Bình nhỏ giọng: “Công tử, có cần bẩm Tần tiên sinh không?”

“Bẩm cái gì? Bẩm rằng ta ngửi được mùi thơm?” Ta phủi tay áo đứng dậy. “Tiên sinh sẽ tưởng ta đọc sách ít nên chuyển sang học làm chó săn.”

A Bình nghẹn đến đỏ mặt, vừa muốn cười vừa không dám. Ta đưa hộp bút cho hắn. “Đi hỏi phòng trà. Đừng hỏi bài thi. Chỉ hỏi sau khi tan học có ai đưa trà, đưa áo mưa, hay đưa than sấy giấy đến gia học. Nhớ, hỏi như ngươi tò mò chuyện vặt, không phải như ta sai đi tra án.”

Hắn gật đầu, chạy đi rất nhanh. Ta không theo. Một người bệnh chạy theo người khỏe trong mưa, kết quả thường chỉ có hai loại: hoặc ngã, hoặc bị người khác thương hại. Cả hai đều không giúp ích cho việc tìm bài. Ta quay về dưới hiên, dựa vào cột gỗ nghỉ hơi. Mưa rơi trên mái ngói, tiếng tí tách đều đến mức làm người ta dễ ngủ, nhưng trong đầu ta lại đang xếp lại từng đoạn thời gian: Tần tiên sinh thu bài, đặt dưới nghiên; chúng ta rời gia học; ông bị quản sự tiền viện mời đi; tiểu đồng lấy bài ra hong; giữa khoảng đó, một người không thuộc gia học đã đến gần cửa sổ hoặc vào phòng. Người ấy hoặc mang bài giả tới, hoặc lấy bài thật đi. Dù là cách nào, hắn cũng không hành động vì một tiểu đồng nghịch ngợm. Một bài thi của đứa trẻ bị ruồng bỏ không đáng để người hầu mạo hiểm, trừ phi phía sau có người muốn dùng nó để chứng minh ta vẫn là kẻ chỉ biết chép sách.

Một chiếc ô giấy xanh dừng lại cách ta vài bước. Lục Thanh Hành đứng dưới ô, áo lam không dính mưa, nhưng sắc mặt lại lạnh hơn mưa. Hắn nhìn ta, rồi nhìn hành lang phía tây. “Ngươi phát hiện rồi?”

Ta hỏi lại: “Đường huynh phát hiện cái gì?”

Hắn hừ một tiếng. “Ngươi nói chuyện với người khác thì giả ngốc, nói với ta cũng giả ngốc. Không mệt à?”

“Mệt.” Ta rất thành thật. “Cho nên ta đang dựa cột.”

Khóe miệng hắn giật nhẹ, nhưng rất nhanh ép xuống. “Sau khi ta nộp bài, có người của đại phòng tới đưa áo cho ta. Ta không để nàng vào, nhưng nàng đi ngang cửa sổ. Hương trên người rất nồng. Lúc ấy ta tưởng nàng chỉ muốn xem ta làm bài thế nào.” Hắn dừng một chút, giọng thấp hơn. “Mẹ ta không thích thua, càng không thích người khác nói trưởng phòng dạy con không bằng một đứa vừa ra khỏi từ đường.”

Câu ấy không phải lời thú nhận, cũng không phải lời xin lỗi. Nó giống một hòn đá được ném xuống ao, đủ làm mặt nước lộ ra vòng sóng. Ta nhìn hắn. “Đường huynh đang giúp ta?”

“Ta không giúp ngươi.” Hắn quay mặt đi. “Ta chỉ không thích thắng bằng bài giả. Nếu ngươi thua vì ngu, ta sẽ cười trước mặt ngươi. Nếu ngươi thua vì người khác tráo giấy, ta cười cũng mất mặt.”

Kiêu ngạo đến mức gần như đáng yêu, nếu hắn không cao hơn ta nửa cái đầu và luôn nói chuyện như đang cầm thước thay Tần tiên sinh. Ta chắp tay với hắn. “Vậy đa tạ đường huynh đã giữ thể diện cho tiếng cười của mình.”

Hắn trừng ta một cái, xoay ô rời đi. Trước khi đi xa, hắn bỏ lại một câu: “Người đưa áo tên Thu Nương. Nàng là nha hoàn bên cạnh mẫu thân ta, không phải loại sẽ tự ý đến gia học.”

Thu Nương. Ta ghi cái tên ấy vào lòng. Đại phòng, nha hoàn thân cận, hương phù dung, cửa sổ phía tây. Những mảnh vụn nhỏ đặt cạnh nhau, chưa thành chứng cứ, nhưng đã thành đường đi.

A Bình trở lại khi trời sắp tối, tóc mái ướt dính trên trán. Hắn thở hổn hển, nói phòng trà hôm nay không đưa than tới gia học, nhưng có một nha hoàn mặc váy màu hạnh đi mượn khăn khô, bảo áo của Đại công tử bị mưa làm ẩm. Nàng không đi một mình; lúc rời phòng trà còn cầm thêm một phong giấy dầu mỏng, nói là danh mục vải của đại phòng gửi nhầm. Người phòng trà không biết chữ, chỉ thấy góc giấy bên trong có dấu đỏ.

Ta hỏi: “Nàng đi hướng nào?”

“Qua nguyệt môn phía bắc.” A Bình nhìn ta, giọng nhỏ đến mức gần như bị mưa nuốt mất. “Đó là đường về đại phòng.”

Ta chống tay vào cột, đứng thẳng lên. Thân thể mệt đến mức từng khớp xương đều phản đối, nhưng đầu óc lại tỉnh lạ thường. “Đi.”

“Đi đâu ạ?”

“Đi nhìn xem danh mục vải của đại phòng có biết vẽ sơ đồ vận lương không.”

Chúng ta không đi vào đại phòng. Người không có chứng cứ mà xông vào sân người khác, khác gì tự đem cổ đặt lên thớt rồi hỏi dao có sắc không. Ta chỉ đứng ở cuối hành lang, nơi có thể nhìn thấy cửa hông đại phòng qua màn mưa. Không lâu sau, một nha hoàn mặc váy màu hạnh vội vã đi tới. Nàng cầm ô thấp, nhưng tay áo trái phồng lên bất thường. Khi gió thổi lật mép giấy dầu trong tay nàng, ta thấy một góc giấy trắng lộ ra, trên góc phải có dấu nhỏ màu son của Tần tiên sinh.

Mưa rơi xuống giữa chúng ta, dày như một tấm rèm. Ta không nhìn rõ chữ trên giấy, nhưng không cần nhìn rõ. Trong gia học hôm nay, chỉ có bài thi mới có dấu ấy. Thu Nương dừng trước cửa hông đại phòng, quay đầu nhìn quanh rất nhanh, rồi bước vào trong. Cánh cửa khép lại, tiếng then gỗ vang lên khô khốc.

A Bình nắm chặt hộp bút trong tay. “Công tử, bài thật của người…”

“Chưa chắc là bài thật.” Ta nhìn cánh cửa kia, chậm rãi nói. “Nhưng chắc chắn không phải danh mục vải.”

Đến lúc ấy ta mới hiểu, người tráo bài không chỉ muốn đổi điểm số. Họ muốn biết trong bài thật của ta viết gì, muốn biết ta nhìn thấy chỗ nào trong tuyến vận lương, muốn biết đứa trẻ từng bị nhốt trong từ đường rốt cuộc đã học được cách tính đến đâu. Mưa đêm buông xuống, đèn trong đại phòng lần lượt sáng lên. Ánh sáng ấy không giống hoa đăng của Tạ Vân Chi, nó lạnh, kín và bị che sau lớp giấy cửa dày.

Ta khẽ khép tay áo, để mùi thuốc đắng phủ lên hương phù dung còn vương trong mưa. Bài thi của ta đã đi vào đại phòng. Còn người tráo bài, có lẽ chỉ vừa mở giúp ta cánh cửa đầu tiên.