Chương 13: Bài Thi Không Có Trong Sách
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 13: Bài Thi Không Có Trong Sách
Đêm ấy ta không ngủ ngay. Quyển “Gia huấn lược chú” của Lục Thanh Hành đặt bên cạnh đèn, mép giấy cũ cong lên, bốn chữ “đề ngoài sách” nhỏ đến mức nếu mắt ta hoa thêm một chút, có lẽ đã xem thành vết mực lem. A Bình châm thêm dầu, nhỏ giọng hỏi: “Công tử, có phải sách có vấn đề không?” Ta khép sách lại. “Sách không có vấn đề. Có vấn đề là người muốn chúng ta chỉ nhìn vào sách.” Hắn nghe không hiểu, nhưng vẫn đặt thuốc và nửa miếng bánh quế đã nguội bên tay ta, nói Tạ cô nương dặn bánh để lâu sẽ cứng, người cũng vậy, nên đừng cố thành cục đá trong một đêm.
Ta bật cười rất khẽ. Bánh quế nguội dính răng hơn lúc nóng, nhưng vẫn có mùi quế ngọt. Ta lấy tờ giấy chia bốn ô hôm qua ra, thêm một ô thứ năm: “ngoài sách”. Kinh nghĩa phải thuộc, gia huấn phải hiểu, lễ chế phải biết dùng để tự bảo vệ. Còn đề thi nếu đã bị người khác nhắc trước, ta càng không thể chỉ đi theo tiếng bước chân họ để lại.
Sáng hôm sau, trời âm như chiếc nắp nồi úp xuống mái ngói. Ta vừa đến gia học đã thấy trên án mỗi người có thêm một tờ giấy trắng, bên góc phải đóng dấu nhỏ của Tần tiên sinh. Thiếu niên áo vàng cầm tờ giấy lên soi trước cửa sổ, cười nói: “Tam đệ, ngươi đêm qua đã mơ thấy kho lương chưa?” Ta đặt hộp bút xuống. “Có. Trong mơ kho lương hỏi ta vì sao có người chưa viết đã muốn xem bài người khác.” Hắn nghẹn lại, mấy thiếu niên phía sau cúi đầu ho khan. Lục Thanh Hành ngồi hàng đầu, không quay lại, nhưng đầu bút hắn dừng nửa nhịp trên nghiên mực.
Tần tiên sinh vào phòng đúng lúc tiếng trống đầu giờ dứt. Ông không bảo chúng ta nộp bài ngay, mà sai tiểu đồng treo lên vách một tấm vải bố lớn. Trên vải vẽ sơ lược bốn kho của Lục gia, hai đường ra bến, một đường qua phố Nam, một đường men theo hồ sen cạn, ngoài cùng còn có mấy nét gấp khúc biểu thị dốc đá sau từ đường. Tiểu đồng lại đặt lên bàn ba túi đậu, mỗi túi buộc nhãn “gạo cũ”, “gạo mới”, “gạo ẩm”. Cả phòng bỗng yên. Bài lược ý đáng lẽ chỉ cần múa bút trên giấy, nhưng cảnh trước mắt rõ ràng không nằm trong sách chú giải nào.
Tần tiên sinh gõ thước xuống án. “Hôm qua bảo các ngươi viết về kho lương mùa mưa, ta biết phần lớn đã đi lục sách cũ. Sách nói phải kê ván, đảo bao, kiểm mái, ghi sổ. Không sai. Nhưng đến khi mưa thật rơi xuống, gạo sẽ không vì câu văn đẹp mà tự khô.” Ông liếc qua phía ta. “Hôm nay đổi cách. Trên vải là giả đồ tuyến vận lương từ kho nội viện ra Bến Nam. Ba ngày nữa có thuyền quan qua bến, Lục gia phải giao ba trăm bao gạo không mốc. Mưa có thể tới trước giờ Thìn ngày thứ ba. Xe trong phủ có sáu chiếc, mỗi chiếc một chuyến chở được mười bao. Đường phố Nam bằng phẳng nhưng dễ chậm vì kiểm thẻ. Đường hồ sen ngắn nhưng nền thấp. Đường dốc đá xa nhất, nhưng cao ráo. Các ngươi tự viết phương án. Không được hỏi nhau. Không được chép sách. Đây mới là bài thi không có trong sách.”
Bốn chữ cuối rơi xuống, thiếu niên áo vàng nhìn tấm vải rồi nhìn túi đậu, Lục Thanh Hành vẫn bình tĩnh hơn mọi người, cúi đầu viết rất nhanh. Ta nhìn tấm vải bố một lúc, trong lòng lại thả lỏng. Bài này khó vì quá thật, mà chuyện thật thường không chờ người ta thuộc xong sách mới xảy ra.
Ta không viết ngay. Trước hết, ta lấy bút chấm mực nhạt, vẽ lại ba đường trên giấy, đánh dấu chỗ đổi người, chỗ kiểm thẻ, chỗ có thể đặt ván tạm. Bên cạnh mỗi đường, ta ghi bốn chữ: nhanh, khô, ổn, dễ tra. A Bình đứng ngoài hiên không vào được, nhưng lúc đưa thuốc sáng nay hắn đã nhét trong hộp một mảnh giấy nhỏ của Tạ Vân Chi. Trên đó chỉ viết một câu: “Đường ven hồ sau mưa làm giày dính bùn, bánh quế rơi xuống nhặt lên cũng thành bánh bùn.” Nàng không vào gia học, nhưng người Tạ gia hái thuốc thường đi qua các lối nhỏ. Câu ấy đủ nhắc ta rằng đường ngắn không phải lúc nào cũng là đường nhanh, nhất là khi phải chở gạo khô.
Tần tiên sinh đi qua sau lưng ta, thấy mặt giấy toàn mũi tên và số nhỏ, chân mày hơi động. “Tam công tử định vẽ tranh thay bài văn?” Ta đứng dậy, lễ phép đáp: “Học trò văn chương kém, sợ câu chữ đẹp che mất chỗ sai. Vẽ ra trước để khỏi tự lừa mình.” Trong phòng có người cười khẽ. Tần tiên sinh nhìn ta một lát, hỏi: “Gia huấn hôm qua đọc còn vấp, hôm nay đã muốn bàn vận lương?” Đây chính là thiên kiến của người đọc sách lâu năm: người chưa thuộc đủ câu chữ thì nói chuyện thực vụ cũng dễ bị xem là may mắn nhất thời. Ta không giận. Thiên kiến không nhất định là ác ý, nhiều khi chỉ là chiếc cân cũ dùng quen tay.
Ta đáp: “Học trò đọc vấp là thật, nên càng không dám dùng lời rỗng. Nhưng gia huấn có câu ‘trị gia dĩ tín’. Nếu vận lương mà không có dấu giao nhận, không có người chịu trách nhiệm từng đoạn, chữ tín ấy chỉ treo trên tường, không nằm trong bao gạo.” Tần tiên sinh không nói đúng sai, chỉ đặt thước lên án ta. “Viết tiếp.” Ông đi rồi, thiếu niên áo vàng mới thấp giọng châm chọc: “Đúng là người từng ở kho, mở miệng ngậm miệng đều là bao gạo.” Ta cúi đầu viết, không nhìn hắn. “Bao gạo ít nhất còn nuôi người. Lời châm chọc để lâu chỉ nuôi mọt.” Lần này tiếng cười bị nén xuống thấp hơn, vì Tần tiên sinh vẫn đang cầm thước.
Ta chia ba trăm bao thành ba loại. Gạo mới dễ giữ, đi đường dốc đá sau cùng; gạo cũ phải giao trước, đi phố Nam để dễ kiểm thẻ và có người chứng kiến; gạo đã hơi ẩm phải tách ra đảo bao, hong cạnh bếp kho, nếu không kịp thì ghi riêng, không được trộn làm đủ số. Sáu xe không thể chạy tán loạn, mỗi xe phải có thẻ tre ghi kho xuất, người áp xe, giờ rời kho, giờ đến bến. Hai xe đầu dò đường phố Nam; nếu cổng lớn chậm quá một khắc, lập tức chuyển một phần sang dốc đá. Đường hồ sen chỉ dùng trước mưa. Ở bến phải kê ván, trải chiếu cũ, đặt người kiểm dây buộc. Điều quan trọng nhất là không ai được vì sợ thiếu số mà lấy gạo ẩm trộn vào gạo khô, bởi một bao mốc có thể làm hỏng danh tiếng cả kho.
Viết đến đây, cổ tay ta hơi run. Thân thể này vẫn chưa chịu phối hợp với đầu óc, ngồi lâu một chút đã đau lưng, ngửi mực lâu một chút đã thấy ngực nặng. Ta ngậm viên thuốc, vị đắng tan ra dưới lưỡi. Lục Thanh Hành ở phía trước bỗng đứng dậy nộp bài. Hắn đi ngang qua án ta, mắt lướt qua sơ đồ, dừng ở dòng “gạo ẩm không được trộn”. Hắn không nói gì, nhưng khi tới trước mặt Tần tiên sinh, hắn hỏi: “Tiên sinh, nếu người quản kho lấy danh nghĩa giữ đủ số, ép học trò ghi ba trăm bao đều đạt, học trò nên làm thế nào?” Câu hỏi ấy khiến phòng học lập tức yên xuống.
Tần tiên sinh nhìn hắn. “Ngươi hỏi cho bài của mình, hay hỏi thay người khác?” Lục Thanh Hành đáp rất thẳng: “Hỏi cho Lục gia.” Câu này kiêu ngạo đến mức sạch sẽ. Tần tiên sinh gật đầu, nhưng chưa trả lời ngay mà quay sang gọi ta: “Tam công tử, ngươi nói.” Ta buông bút, đứng dậy chậm rãi. “Nếu chỉ là bài học, học trò sẽ ghi đúng sự thật rồi chịu phạt vì trái ý người quản kho. Nếu là việc thật, học trò sẽ mời người ấy tự viết lệnh, đóng dấu, ghi rõ giờ, số bao và lý do trộn gạo. Người dám ra lệnh trước miệng chưa chắc dám để tên mình nằm trong sổ.”
Thiếu niên áo vàng lập tức nói: “Ngươi đây là chống lệnh trưởng bối!” Ta nhìn hắn. “Không. Là nhắc trưởng bối thương danh tiếng của mình.” Cả phòng lại yên. Tần tiên sinh gõ thước một cái, nhưng lần này không phải phạt. “Ngồi xuống. Viết nốt.” Ta ngồi lại, tim đập hơi nhanh. Nếu kỳ khảo hạch này thật sự có bàn tay người lớn, ta cần để họ biết: ta không chỉ biết tính bao gạo, ta còn biết tính cái giá của một chữ ký.
Cuối giờ, Tần tiên sinh thu bài từng người. Ông không cho tiểu đồng chạm vào xấp giấy mà tự tay kiểm dấu ở góc phải, rồi đặt tất cả dưới nghiên mực lớn. Khi đến bài của ta, ông dừng lại lâu hơn một chút. “Chữ xấu hơn sơ đồ.” Ta thành thật đáp: “Học trò sẽ luyện.” Ông hừ nhẹ, không rõ là ghét hay buồn cười. Lục Thanh Hành đi ngang qua cửa, để lại một câu rất thấp: “Đừng để người khác luyện thay ngươi.” Ta ngẩng đầu nhìn hắn. Hắn đã đi xa, áo lam khuất sau rèm mưa mỏng vừa bắt đầu buông xuống ngoài hiên.
Buổi chiều, Tần tiên sinh bảo nghỉ sớm vì trời đổ mưa. Ta theo A Bình về viện, nhưng đi được nửa đường thì phát hiện hộp bút bỏ quên ở gia học. A Bình muốn quay lại lấy, ta lắc đầu, tự mình đi. Từ khi nghe hai chữ “bản nháp” hôm qua, ta bỗng thấy mọi món đồ qua tay người khác đều có thể trở thành một cái miệng biết nói sai. Gia học gần như không có người. Ta bước tới cửa, vừa định vào thì nghe bên trong vang lên tiếng giấy bị lật rất nhẹ.
Qua khe cửa, ta thấy tiểu đồng đang đặt một xấp bài lên án Tần tiên sinh để hong tránh ẩm. Hắn vội vàng, tay áo quệt qua nghiên mực, vài tờ giấy xô lệch. Ta không lên tiếng ngay. Ánh mắt ta dừng ở tờ trên cùng. Góc phải có dấu nhỏ của Tần tiên sinh. Dòng tên viết rất rõ: Lục Hoài Tranh. Nhưng bên dưới tên ấy không có sơ đồ ba đường, không có bốn chữ nhanh, khô, ổn, dễ tra, cũng không có nét chữ hơi nghiêng của ta sau khi cổ tay mỏi. Trên tờ giấy ấy chỉ là một đoạn văn tròn trịa chép lại sách cũ: mùa mưa nên kê ván, đảo bao, kiểm mái.
Mùi mực trên giấy còn mới, mới đến mức như vừa được người khác thổi khô. Ta đứng ngoài cửa, nghe tiếng mưa mỗi lúc một dày, bỗng hiểu vì sao Lục Thanh Hành nói đừng để người khác luyện thay ta. Bài thi không có trong sách đã làm xong, nhưng bài thật sự của ta, e rằng vừa rời khỏi tay Tần tiên sinh đã biến mất.
