Chương 16: Phiên bản thứ ba
Sáng thứ Hai của tuần thứ sáu, Hoài Nam kéo ghế sang bàn Minh Thành với ba bản in kẹp riêng bằng ba màu giấy đánh dấu. Cậu không mở đầu bằng một con số, cũng không mở bảng mô hình đang dùng.
“Em tìm thấy ba phiên bản.”
Minh đặt bút xuống. Từ cuối tuần trước, anh đã yêu cầu mọi giả định nền phải trả lời được ba câu: đến từ đâu, ai chịu trách nhiệm và nếu sai thì mô hình đổi thế nào. Anh đã nghĩ phần khó nhất sẽ là tìm nguồn. Hóa ra ngay trước nguồn đã có thêm một lớp khác: cùng một dữ liệu được kể lại qua nhiều lần sửa.
Hoài Nam xoay màn hình về phía anh. “Bản đầu nằm trong gói tài liệu Thành Nam nhận khi vào vòng sơ bộ. Bản thứ hai được gửi bổ sung sau đó. Bản thứ ba là bản đang dùng hiện tại.”
“Ngày nhận?”
“Có đủ. Em đối chiếu thư chuyển và nhật ký tài liệu rồi.”
“Có bản nào bị sửa sau khi mình nhận không?”
“Không thấy. Ba bản là ba tài liệu khác nhau.”
Như vậy, ít nhất câu hỏi đầu tiên đã rõ: sự khác nhau tồn tại ngay trong các bản họ được cung cấp hợp lệ qua từng thời điểm.
Hoài Nam mở phần giả định về tốc độ bàn giao. Ba cột được đặt cạnh nhau. Cùng một dòng về mức độ đồng thuận của tiểu thương, nhưng tỷ lệ tăng dần qua từng bản. Bản cuối cùng là con số bảy mươi tám phần trăm mà Thành Nam đã đưa vào mô hình từ đầu.
Điều làm Minh dừng lâu hơn lại nằm ở phần chữ nhỏ bên dưới.
Bản đầu có đoạn giải thích dài hơn, nói đây là kết quả tổng hợp từ khảo sát vận hành tại thời điểm thực hiện. Sang bản thứ hai, phần chú thích ngắn đi và xuất hiện cụm “nhóm phản hồi xác định”. Đến bản thứ ba, cụm đó biến mất. Chỉ còn một dòng gọn hơn: tỷ lệ đồng thuận theo khảo sát Tân Phúc.
“Em đã thấy chênh lệch giữa hai bản trước.” Hoài Nam nói chậm hơn thường ngày. “Lúc đó em nghĩ là cập nhật mẫu hoặc làm tròn sau khi có thêm phản hồi. Vì công thức trong mô hình mình không đổi, em không báo anh.”
Minh không trách ngay. Câu nói khó chịu chính vì nó hợp lý với cách họ từng làm việc: bên vận hành cập nhật số liệu, đội tài chính nhận bản mới rồi thay bản cũ để tiếp tục chạy tiến độ.
“Cậu có tài liệu nào chứng minh là cập nhật mẫu không?”
“Không.”
“Có tài liệu nào chứng minh là làm tròn?”
“Không.”
Hoài Nam im một nhịp. “Không.”
Minh kéo bản thứ hai lại gần. “Còn ‘nhóm phản hồi xác định’ nghĩa là gì?”
“Em chưa biết. Không có định nghĩa đi kèm.”
“Bộ câu trả lời gốc?”
“Vẫn chưa được cung cấp.”
Vậy họ chưa biết bảy mươi tám phần trăm được tính đúng hay sai. Cũng chưa biết ba phiên bản thay đổi vì khảo sát tiếp tục được cập nhật, vì cách phân nhóm thay đổi hay chỉ vì phần diễn giải được rút gọn. Nếu kết luận nhiều hơn lúc này, anh sẽ biến một khoảng trống thành câu chuyện hoàn chỉnh chỉ vì câu chuyện ấy có lợi.
Minh chỉ vào ba cột. “Giữ nguyên cả ba.”
“Em đang định gộp thành một bảng lịch sử thay đổi.”
“Làm bảng đối chiếu, nhưng không ghi đè tài liệu gốc. Mỗi bản giữ đúng ngày nhận, nguồn nhận và nội dung như lúc mình có nó.”
Hoài Nam gõ một dòng rồi ngẩng lên. “Cả những phiên bản không còn dùng?”
“Nhất là những phiên bản không còn dùng.”
Trên màn hình, ô bảy mươi tám phần trăm vẫn nằm trong mô hình chính, nhưng Minh không còn nhìn nó như một đầu vào duy nhất. Nó là điểm cuối của một đường thay đổi mà họ chưa hiểu.
Gần mười một giờ, Quang Huy bước vào phòng dự án sau cuộc họp ở tầng trên. Ông dừng cạnh màn hình lớn, nhìn ba cột đang mở rồi tháo kính.
“Các cậu đang làm gì với bản mô hình cũ?”
Hoài Nam theo phản xạ nhường phần trả lời cho Minh.
“Đối chiếu lịch sử giả định nền.”
“Để làm gì?”
“Có ba phiên bản của tỷ lệ đồng thuận. Tỷ lệ tăng dần, chú thích ngắn dần. Bản giữa có một điều kiện mô tả mà bản mới nhất không còn.”
Quang Huy đọc lướt vài dòng. “Bản mới thay bản cũ là chuyện bình thường. Dữ liệu khảo sát được cập nhật thì mô hình phải cập nhật. Nếu mỗi lần câu chữ thay đổi đều quay lại lịch sử, đội dự án sẽ không chốt được gì.”
“Em không phản đối dùng bản mới.”
“Vậy thì vấn đề ở đâu?”
“Em muốn biết vì sao nó mới hơn.”
Quang Huy đặt kính xuống bàn. “Minh, một mô hình làm việc luôn có phiên bản. Người ta sửa giả định, bổ sung thông tin, rút chú thích cho gọn. Thông lệ là dùng bản phát hành gần nhất, trừ khi có căn cứ cho thấy nó sai.”
“Em chưa nói nó sai.”
“Nhưng cách cậu làm đang biến mọi thay đổi thành nghi vấn.”
Minh nhìn lại cột giữa. Cụm “nhóm phản hồi xác định” chưa đủ để nói cách tính có vấn đề. Nhưng nó đủ để đặt một câu hỏi mà bản mới nhất không còn tự trả lời.
“Nếu đây là giả định không ảnh hưởng quyết định, em sẽ bỏ qua. Nhưng tốc độ bàn giao đang đi vào tiến độ, chi phí tài chính và mức dự phòng. Một thay đổi ở đây không chỉ làm báo cáo gọn hơn.”
Quang Huy khoanh tay. “Cậu muốn dừng mô hình đến khi có khảo sát gốc?”
“Không. Mô hình vẫn chạy. Nhưng bảy mươi tám phần trăm phải được đánh dấu là chưa kiểm chứng cách tính. Và các phiên bản cũ phải được giữ để khi có dữ liệu gốc, mình biết phải đối chiếu cái gì.”
“Cậu đang tự thêm việc vào một hồ sơ vốn đã chậm.”
“Đúng.”
Câu trả lời ngắn khiến Hoài Nam ngẩng lên khỏi bàn phím.
Quang Huy nhìn Minh vài giây. Ông không nổi giận. “Cậu nhớ mục tiêu của mình chứ?”
“Giành Tân Phúc.”
“Thế thì đừng để việc chứng minh một bản chú thích không hoàn hảo trở thành mục tiêu mới.”
Minh siết ngón cái vào mép bút rồi thả ra. Sáu tuần trước, anh có lẽ đã đồng ý ngay với cách phân biệt ấy: việc chính là thắng, những phần chưa đẹp xử lý sau. Nhưng lúc này vấn đề không còn nằm ở một chú thích. Ba mươi bảy quầy, mốc cuối quý, lối hậu cần, tỷ lệ đồng thuận — mỗi điểm đều từng được trình bày đủ gọn để mô hình chạy nhanh hơn.
Anh vẫn chưa có quyền nói chúng cùng một nguyên nhân.
Nhưng anh cũng không còn lý do coi lịch sử thay đổi là rác hành chính.
“Em không cần chứng minh chú thích sai.” Minh nói. “Em cần biết giả định nào đang quyết định kết quả và nó đã đi đến phiên bản hiện tại bằng cách nào.”
Quang Huy đeo kính lại. “Cậu có hai ngày để làm phần này mà không ảnh hưởng lịch nộp của Thành Nam.”
“Được.”
“Và dùng bản mới nhất cho hồ sơ chính thức cho tới khi có căn cứ khác.”
“Được.”
Ông nhìn Hoài Nam. “Đừng dựng thêm kịch bản chỉ vì mỗi bản dùng một câu chữ khác nhau.”
Minh đáp trước: “Kịch bản chỉ thay khi giả định thay. Không phải vì câu chữ.”
Quang Huy không tranh luận tiếp. Trước khi đi, ông dừng ở cửa.
“Thận trọng là tốt. Nhưng một dự án không thể sống bằng cách giữ mọi thứ ở trạng thái chưa kết luận.”
Cửa khép lại.
Hoài Nam chờ vài giây mới quay sang Minh. “Vậy em vẫn để bảy mươi tám phần trăm trong bản chạy?”
“Để. Nhưng tách trạng thái của nó khỏi giá trị.”
Cậu nhíu mày.
“Giá trị đang dùng là bảy mươi tám. Trạng thái là chưa kiểm chứng cách tính. Hai việc khác nhau.”
Hoài Nam gật chậm rồi tạo thêm một cột trong bảng đối chiếu. “Nguồn. Ngày nhận. Người hoặc đơn vị chịu trách nhiệm. Trạng thái kiểm chứng. Tác động nếu sai.”
“Thêm lịch sử thay đổi.”
“Và lý do thay đổi?”
“Nếu có tài liệu thì ghi. Không có thì để trống.”
Cậu dừng tay. “Không suy ra?”
“Không suy ra rồi viết thành dữ kiện.”
Buổi chiều, hai người mở rộng bảng khỏi tỷ lệ đồng thuận. Không chạy lại toàn bộ mô hình, họ chỉ lần theo các giả định có khả năng đổi kết quả: số quầy được tính nghĩa vụ chuyển tiếp, thời gian bàn giao, quyền sử dụng lối hậu cần, chi phí dự phòng và các mốc tiến độ. Có dòng chỉ có một nguồn. Có dòng đã qua hai lần cập nhật. Có dòng được lặp lại ở nhiều tài liệu đến mức trước đây họ tưởng sự lặp lại chính là xác nhận.
Minh gạch bỏ cách hiểu đó.
“Một thông tin xuất hiện năm lần nhưng cùng trích từ một nguồn thì vẫn là một nguồn.”
Hoài Nam kéo lại bảng. “Vậy những chỗ dẫn vòng về nhau?”
“Đánh dấu.”
“Có cần báo Dung ngay không?”
“Phần nào liên quan căn cứ pháp lý thì chuyển cho chị ấy theo đúng phạm vi. Còn đây trước hết là việc của mình: phải biết mô hình đang đứng trên cái gì.”
Đến gần sáu giờ, bảng vẫn còn nhiều ô trống hơn Minh muốn. Nhưng lần đầu tiên từ khi nhận Tân Phúc, những ô trống đó không bị che bằng màu của một kịch bản cơ sở đẹp. Chúng nằm riêng, có tên, có người phải đi tìm câu trả lời và có phần tác động nếu câu trả lời khác với điều Thành Nam đang dùng.
Hoài Nam lưu ba bản vào ba mục riêng, giữ nguyên bản gốc rồi quay sang anh. “Em sẽ làm tương tự với phần chi phí từ sáng mai. Nhất là ba mươi bảy quầy và tuyến hậu cần.”
Minh nhìn lại ba dòng tỷ lệ trên màn hình.
“Đừng bắt đầu bằng việc làm cho con số mới khớp mô hình.”
“Bắt đầu bằng nguồn?”
“Bắt đầu bằng việc nó đã thay đổi thế nào.”
Hoài Nam khép sổ. Cậu đã không còn vẻ sốt ruột muốn biến mọi câu hỏi thành một công thức ngay trong ngày. Minh cũng không còn thấy đó là chậm.
Trên bản mới nhất, bảy mươi tám phần trăm vẫn là bảy mươi tám phần trăm. Nó chưa bị chứng minh sai, chưa được thay bằng một con số khác và chưa cho phép anh kết luận ai đã cố làm đẹp điều gì.
Nhưng ở bản giữa, bốn chữ “nhóm phản hồi xác định” vẫn còn đó.
Một con số không đổi giá trị khi bị đổi tên; nhưng cách người ta kể về nó thì có.
