Chương 17: Những chi phí không biến mất
Sáng hôm sau, Hoài Nam đã mở sẵn hai bản mô hình trước khi Minh Thành đến phòng dự án. Một bản giữ nguyên các giả định đang dùng. Bản còn lại có hai dòng mới được đánh dấu riêng, không gộp vào số liệu chính thức.
“Em làm đúng như anh dặn.” Cậu xoay màn hình. “Không sửa bản cơ sở. Đây là kịch bản kiểm tra tác động.”
Minh đặt cặp xuống ghế, kéo bảng giả định lại gần. Dòng thứ nhất là ba mươi bảy quầy chưa có trong danh sách hỗ trợ sơ bộ. Hoài Nam không ghi họ là đối tượng chắc chắn phải được bồi hoàn hay bố trí chỗ tạm; cậu chỉ giả định trong trường hợp Thành Nam phải áp cùng mức hỗ trợ chuyển tiếp như nhóm đang được ghi nhận chính thức.
Dòng thứ hai là hậu cần.
“Em bỏ giả định lối sau luôn dùng được trong giai đoạn thi công,” Hoài Nam nói. “Chưa kết luận là mình không có quyền dùng. Chỉ tính trường hợp phải đi tuyến khác cho đến khi Dung có căn cứ rõ hơn.”
“Chi phí lấy từ đâu?”
“Phần hỗ trợ chuyển tiếp lấy theo chính định mức mình đang dùng cho các hộ trong danh sách. Phần hậu cần thì em chưa chốt. Em muốn xuống Tân Phúc đo lại tuyến thay thế trước.”
Minh gật. Đây là khác biệt anh muốn thấy. Một tuần trước, Hoài Nam có thể đã lấy một hệ số dự phòng quen thuộc rồi cộng vào cho đủ. Bây giờ cậu để trống ô chưa có nguồn, dù chính khoảng trống ấy khiến bảng tính xấu hơn.
“Đi luôn.”
Họ đến Tân Phúc trước giờ trưa, lúc luồng giao hàng vẫn chưa dứt hẳn. Minh không yêu cầu ai xác nhận lối phía sau có được sử dụng hay không; câu hỏi đó đã nằm ở Dung. Anh chỉ cần biết nếu không dùng được nó thì hàng hóa và vật tư phải đi thế nào.
Từ đường chính, xe tải nhỏ có thể vào khu trước, nhưng khoảng quay đầu hẹp hơn nhiều so với lối sau. Xe lớn phải vòng sang tuyến ngoài, đi thêm một đoạn rồi mới tiếp cận được khu kho. Ở hai chỗ, giờ giao hàng đụng trực tiếp với luồng khách. Một điểm có thể xử lý bằng đổi giờ. Điểm còn lại muốn duy trì thi công cùng lúc với hoạt động kinh doanh thì phải tách luồng hoặc bố trí người điều phối.
Hoài Nam đứng bên mép đường, ghi từng khoảng thời gian xe phải chờ. “Nếu chỉ tính nhiên liệu thì không đáng bao nhiêu.”
“Đừng chỉ tính nhiên liệu.”
“Em biết.” Cậu nhìn dãy xe đang nối vào cổng trước. “Thời gian xe, nhân công bốc dỡ, số chuyến giảm trong một ca, rồi chi phí giữ an toàn luồng khách.”
Minh không đáp ngay. Trên bản mô hình hiện tại, hậu cần là một dòng gọn: sử dụng tuyến sau trong suốt giai đoạn thi công. Không có chi phí chờ, không có chuyển giờ, không có phương án tách luồng. Khi một điều kiện được coi là sẵn có, mọi chi phí phụ thuộc vào nó gần như biến mất khỏi bảng.
Nhưng ngoài đời, chúng không biến mất. Chúng chỉ được đẩy sang chỗ khác.
Hoài Nam chụp lại các điểm giao cắt và ghi giờ, nhưng không dùng một buổi khảo sát để đại diện cho cả năm vận hành. Khối lượng và tần suất vẫn phải lấy từ số liệu được cung cấp; những gì chưa có căn cứ được giữ thành biến.
Đầu giờ chiều, mô hình mới được chạy lần đầu.
Hoài Nam không nói gì trong gần một phút. Cậu kiểm lại ba ô bằng máy tính tay, rồi quay sang bảng tổng hợp. Phần lợi nhuận dự kiến giảm sâu hơn mọi kịch bản họ từng trình trong các phiên nội bộ. Khoản chuyển tiếp cho ba mươi bảy quầy làm tăng chi phí ngay từ giai đoạn đầu; tuyến hậu cần thay thế không tạo ra một khoản lớn duy nhất nhưng kéo theo nhiều chi phí nhỏ ở vận chuyển, nhân sự, tổ chức thi công và thời gian.
Cộng riêng từng dòng, chúng đều có vẻ xử lý được.
Đặt chúng cùng nhau, khoảng đệm gần như biến mất.
“Bản đóng toàn khu một lần không còn đẹp nữa,” Hoài Nam nói.
“Không cần đẹp. Cần biết nó còn đứng được không.”
“Đứng được, nhưng rất sát nếu mình vẫn giữ tiến độ hiện tại.”
Minh kéo ghế lại. “Thử chia giai đoạn.”
Hoài Nam quay sang. “Theo kiểu giữ một phần khu hoạt động?”
“Không bê phương án của Lam Viên.” Minh chỉ vào sơ đồ thi công. “Giữ cấu trúc thương mại và phương án tái thiết của mình. Chỉ bỏ giả định phải đóng toàn bộ trong cùng một nhịp. Xem nếu chia hai đợt thì chi phí nào giảm, chi phí nào tăng.”
Cậu hiểu ngay. Chia giai đoạn sẽ kéo dài một số khoản quản lý công trường và vốn, nhưng đổi lại nhu cầu chuyển tạm không dồn vào cùng lúc. Luồng giao nhận cũng có thể được tổ chức theo từng khu thay vì buộc toàn bộ dự án phụ thuộc vào một tuyến hậu cần duy nhất.
“Tiến độ sẽ dài hơn.”
“Biết.”
“Chi phí vốn tăng.”
“Chạy đi.”
Hoài Nam tạo một nhánh mới từ bản kịch bản, giữ nguyên hai điều kiện bất lợi. Minh ngồi cạnh, không can thiệp vào công thức. Anh chỉ hỏi nguồn mỗi khi xuất hiện một giả định mới: năng lực khu tạm lấy từ đâu, tỷ lệ doanh thu duy trì dựa vào tài liệu nào, số tháng thi công mỗi đợt có phải con số kỹ thuật đã xác nhận hay chỉ là ước lượng.
Có những ô phải để dải thay vì một giá trị. Có những chỗ họ phải chấp nhận ghi “chưa đủ dữ liệu”.
Mô hình vì thế chậm hơn.
Nhưng đến khi kết quả hiện ra, nó không còn giống một bản tính được làm để chứng minh lựa chọn đã có sẵn.
Lợi nhuận vẫn thấp hơn đáng kể so với phương án cơ sở, song dự án chưa rơi khỏi vùng khả thi. Chi phí vốn tăng vì thời gian dài hơn, nhưng phần hỗ trợ chuyển tiếp không còn dồn hết vào đầu kỳ. Nhu cầu sử dụng tuyến hậu cần thay thế cũng giảm ở những tháng chỉ thi công một phần khu vực.
Hoài Nam tựa lưng vào ghế. “Nếu hai rủi ro này cùng xảy ra, chia giai đoạn vẫn còn đứng được.”
“Ghi là phương án thay thế có điều kiện.” Minh chỉ vào phần chú thích. “Và không được dùng để nói ba mươi bảy quầy chắc chắn thuộc nghĩa vụ hay lối sau chắc chắn không dùng được.”
Minh nhìn ba cột cạnh nhau: bản cơ sở, kịch bản bất lợi với phương án đóng một lần, và kịch bản bất lợi với cách chia giai đoạn. Lần đầu tiên Thành Nam có một lựa chọn nằm giữa hai cực mà họ đã tranh luận suốt nhiều tuần. Không phải giữ nguyên mọi giả định để bảo vệ lợi nhuận. Cũng không phải bỏ cấu trúc của mình để đi theo mô hình đối thủ.
Chỉ là thừa nhận một dự án có thể cần thay cách triển khai khi điều kiện nền không còn thuận lợi như lúc đầu.
Cuối giờ chiều, Quang Huy bước vào khi Hoài Nam đang in phần tổng hợp tác động. Ông cầm tờ đầu tiên, đọc đến dòng “kịch bản bất lợi kết hợp” rồi ngẩng lên.
“Cậu cho chạy cả ba mươi bảy quầy lẫn tuyến hậu cần thay thế cùng lúc?”
“Vâng.”
“Cả hai đều chưa được xác nhận.”
“Đúng.”
Quang Huy đặt tờ giấy xuống bàn. “Một biến chưa chắc xảy ra thì dùng để đo độ nhạy. Hai biến chưa chắc xảy ra mà chồng lên nhau, cậu đang dựng ra một tình huống để làm hồ sơ của mình xấu nhất có thể.”
Minh không phản bác ngay. Lập luận ấy không sai về kỹ thuật nếu kịch bản này được dùng như dự báo trung tâm. Nhưng đó không phải việc anh đang làm.
“Em không đưa nó vào bản cơ sở.”
“Nhưng cậu giữ nó trong hồ sơ quyết định.”
“Vì nó đổi điều kiện mà mình có thể cam kết.”
Quang Huy nhìn anh. “Cụ thể?”
Minh kéo bản tổng hợp lại. “Nếu ba mươi bảy quầy cuối cùng phải được tính vào chuyển tiếp, mình không thể khóa mức chi phí hỗ trợ như hiện tại. Nếu lối sau không đủ ổn định để dựa vào trong thi công, mình không nên cam kết tiến độ mà không có điều kiện tiếp cận. Nếu cả hai cùng bất lợi, phương án đóng một lần làm khoảng đệm quá mỏng. Khi đó chia giai đoạn vẫn còn khả thi.”
“Cậu định mang phương án đó ra cạnh tranh với Lam Viên?”
“Chưa.”
“Vậy làm nó để làm gì?”
“Để biết giới hạn đàm phán của mình trước khi ngồi vào bàn.”
Quang Huy im lặng vài giây. Ông cầm lại tờ giấy, lần này đọc kỹ hơn phần điều kiện. “Cậu đang tự cắt bớt lợi thế. Thành Nam đang mạnh vì đưa ra tiến độ nhanh và cấu trúc gọn. Nếu trước khi ai yêu cầu mà cậu đã chuẩn bị sẵn một phương án chậm hơn, đội bên kia chỉ cần đẩy thêm vài câu hỏi là mình tự lùi.”
“Chuẩn bị không có nghĩa là công bố.”
“Nhưng nó ảnh hưởng cách cậu thương lượng.”
“Đúng.”
Câu trả lời khiến không khí trong phòng chặt lại.
Minh biết điều Quang Huy đang bảo vệ. Một đội dự thầu không thể bước vào thương lượng bằng cách tự liệt kê mọi lý do để tăng giá, kéo tiến độ hay đặt thêm điều kiện. Sáu tuần trước, chính anh cũng sẽ nghĩ như vậy.
Nhưng mô hình trên màn hình chỉ ra điều khác: có những rủi ro nếu bỏ qua, Thành Nam không mạnh hơn. Họ chỉ hứa nhiều hơn khả năng chịu đựng của chính phương án.
“Em vẫn muốn giữ lợi thế tiến độ,” Minh nói. “Nhưng nếu lợi thế đó chỉ tồn tại khi ba mươi bảy quầy bằng không và lối sau luôn sẵn có, thì em cần biết mình đang bán cái gì.”
Quang Huy tháo kính, đặt lên xấp giấy. “Cậu đang biến rủi ro giả định thành điều kiện đàm phán thật.”
“Em biến tác động của nó thành điều kiện. Rủi ro vẫn là chưa xác nhận.”
“Khác nhau với người ngồi phía bên kia bàn không nhiều.”
“Khác với người ký vào cam kết thì có.”
Hoài Nam ngồi im ở đầu bàn, không chen vào. Minh không nhìn cậu, nhưng anh biết đây cũng là một bài học mà vài tuần trước chính mình chưa chắc đã dạy theo cách này.
Quang Huy lật đến trang cuối. “Bỏ kịch bản kết hợp khỏi bộ trình chính thức.”
“Được.”
“Và đừng để nó xuất hiện trong phần đề xuất khi chưa có xác nhận.”
“Được.”
Ông ngẩng lên, có lẽ chờ phần còn lại.
Minh kéo xấp giấy về phía mình. “Nhưng em giữ nó trong hồ sơ quyết định nội bộ. Và trước vòng đàm phán tiếp theo, em sẽ dùng nó để xác định những điều kiện mình không được bỏ.”
Quang Huy không đáp ngay. Ánh mắt ông dừng ở dòng phương án chia giai đoạn, rồi chuyển sang Minh.
“Cậu đang muốn thắng dự án này, hay muốn chứng minh hồ sơ của người khác có lỗi?”
