Chương 51 - Chương 51: Bài Văn Lặp Chữ
Chương 51: Bài Văn Lặp Chữ
“Khoan mở ô mười bảy.”
Lục Thanh nói ngay khi viên chủ sự định gọi người cắt dây niêm. Tiếng nàng không lớn, nhưng giữa căn phòng chỉ còn tiếng giấy sột soạt, bốn chữ ấy khiến bàn tay cầm kéo dừng lại.
Quan coi trường nhìn nàng. “Dải giấy đã mang số ô mười bảy. Còn chờ gì nữa?”
“Chờ ghi rõ ai đang ở ô ấy, bộ giấy đã được phát lúc nào, còn đủ bao nhiêu tờ và từ khi nhập trường đến giờ có ai bước vào.” Thanh nhìn dải giấy nằm riêng dưới tấm kính chặn. “Nếu mở trước khi khóa những điều đó, một tờ thiếu có thể được nói thành thiếu từ đầu, một người đã vào có thể được nói thành chưa từng vào.”
Đỗ Mạnh lập tức bảo viên chủ sự đọc sổ. Ô số mười bảy dãy đông đứng tên Lương Cảnh Du, quê Vân Khê, nhập trường trước giờ mão ba khắc. Hắn được cấp một tờ bài chính, ba tờ nháp, dấu son cùng số. Người phát giấy là giám thí họ Phùng; hai lần tuần hành qua ô đều có ký hiệu trong sổ, không ghi sự cố. Từ lúc mõ khai bút vang lên, không ai được phép rời ô trừ khi có lính áp giải.
Quan coi trường cau mặt. “Vậy càng rõ. Giấy từ ô hắn sang chỗ người chết.”
“Rõ đường đi của giấy, chưa rõ tay người đưa.”
Câu trả lời khiến vài giám thí đứng gần khó chịu, nhưng không ai bác được. Lương Cảnh Du được đưa khỏi ô dưới hai hàng lính, không đi qua sân giếng. Hắn còn trẻ hơn Chu Minh Viễn, mặt dài, áo xanh đã thấm mồ hôi ở lưng. Vừa thấy Thanh đứng cạnh hòm niêm, hắn khựng lại. Ánh mắt ấy không giống người lần đầu nhìn một nữ ngỗ tác; nó giống người đã nghe tên nàng từ trước và đang cố nhớ mình phải tỏ ra sợ hay khinh.
“Học trò đang làm bài, vì sao bị lôi ra?” hắn hỏi.
Quan coi trường chỉ dải giấy. “Vật này mang dấu số ô của ngươi.”
Lương Cảnh Du nhìn chưa đến một hơi rồi đáp: “Giấy thi đã phát thì ở trong ô. Có người lấy trộm, sao lại hỏi ta?”
Thanh ghi nhận hắn không hỏi dải giấy viết gì. Nàng không nói điều đó ra ngay. “Xin hắn đứng ngoài dây. Chưa ai kết luận hắn lấy hay đưa giấy.”
Ô mười bảy được mở dưới sự chứng kiến của phường trưởng, Đỗ Mạnh, hai giám thí và chính Lương Cảnh Du. Thanh vẫn đứng ngoài ngạch, không bước vào. Viên chủ sự dùng kẹp tre nhấc từng tờ lên, đọc số dấu rồi đặt lên ván sạch. Bài chính còn nguyên. Hai tờ nháp đầy chữ. Tờ thứ ba chỉ viết một nửa, mép phải bị xé dọc một dải rộng gần hai ngón tay.
Trong hành lang vang lên tiếng xì xào.
Viên giám thí họ Phùng nói ngay: “Ta phát giấy nguyên tờ.”
Lương Cảnh Du quay phắt sang hắn. “Ngươi nhớ được từng tờ giữa mấy trăm bộ giấy sao?”
“Ta không nhớ từng nét, nhưng giấy rách phải đổi và ghi vào sổ. Sổ không có.”
Thanh yêu cầu đặt mép tờ nháp cạnh dải giấy tìm được ở ô ba mươi hai, nhưng không cho ghép chạm. Thớ giấy, độ dày và màu hồ giống nhau. Ba đoạn xơ ở mép rách có vị trí tương ứng, song phần đầu dải giấy đã mất nên chưa thể nói khớp toàn bộ. Chừng ấy đủ xác định dải giấy rất có thể được xé từ tờ nháp thứ ba của ô mười bảy, vẫn chưa đủ xác định ai xé.
“Đọc phần chữ,” Thanh nói.
Viên chủ sự đọc sáu dòng trên dải giấy trước, rồi đọc đoạn giữa bài chính của Lương Cảnh Du. Điển cố giống nhau: một viên lại nhỏ trong loạn thế tự xóa tên khỏi sổ đinh, đổi họ để giữ mạng, sau lại dùng tên mới vào triều. Nhưng bài của Lương không chép nguyên sáu dòng. Hắn đổi vài chữ, đảo hai vế, bỏ chỗ sai đã bị gạch trên dải giấy.
Quan coi trường thở ra như vừa tìm được đường lui. “Cùng học một điển, có gì lạ? Chu Minh Viễn thấy nháp của Lương rồi chép, thế thôi.”
Thanh nhìn tờ nháp bị xé. Ở dòng thứ tư, sau chữ “danh” có thêm một chữ “danh” nữa, chữ sau nhỏ hơn và bị chấm mực lên trên. Trong bài chính của Lương Cảnh Du, chỗ ấy không lặp. Trong bài Chu Minh Viễn, người chết đã chép cả hai chữ rồi mới gạch chữ sau.
“Nếu chỉ là cùng biết điển,” nàng nói, “không ai cùng biết một chữ viết thừa trên bản nháp.”
Lương Cảnh Du siết tay. “Ta viết nháp, sửa rồi chép sạch. Kẻ kia trộm giấy của ta, liên quan gì đến ta?”
“Có thể không liên quan đến cái chết.” Thanh đáp. “Nhưng tờ giấy của ngươi đã tới ô hắn. Muốn chứng minh bị trộm, trước hết phải tìm đường nó rời ô.”
Bên ngoài dãy đông, tiếng phản đối bỗng dâng lên. Tin một nữ ngỗ tác đứng gần bài thi đã lan nhanh hơn mọi lệnh cấm nói. Vài sĩ tử bị giữ trong ô đập cán bút xuống bàn, yêu cầu quan coi trường đưa “người chạm xác” ra khỏi nơi văn vận. Có kẻ gọi nàng là thứ ô uế, có kẻ nói bài thi bị mắt nữ nhân nhìn qua thì phép trường đã hỏng.
Vai trái của Thanh giật đau theo từng tiếng động. Máu dưới lớp băng mỏng đã khô dính vào áo, mỗi lần hít sâu lại như kéo mép vết thương ra. Nàng không quay về phía những tiếng mắng. Nàng nhìn quan coi trường.
“Ta chưa chạm một tờ giấy nào.”
Quan coi trường biết điều đó. Chính ông đã bắt nàng đứng ngoài ngạch, và giờ ranh giới ấy lại giữ cho trường thi khỏi một cớ đổ lỗi. Ông ra lệnh đóng cửa hành lang, phạt người gây ồn, rồi cho viên chủ sự ghi vào biên bản: Lục Thanh chỉ quan sát từ ngoài dây; mọi bài và nháp đều do giám thí dùng kẹp thao tác.
Sự yên lặng trở lại không hoàn toàn. Nó nằm căng trên những cánh cửa đóng, như hơi nóng bị nhốt trong nồi.
Thanh nói: “Xin đừng chỉ đối chiếu hai bài.”
“Ngươi còn muốn mở bao nhiêu ô?” quan coi trường hỏi.
“Không mở tùy tiện. Hãy cho người đọc các bài đã nộp sớm và đánh dấu nơi xuất hiện điển cố này, nhất là chỗ lặp hai chữ ‘danh’. Người đọc không cần biết tên thí sinh, người ghi không được nhìn số ô. Tách hai việc ra.”
Đó là cách duy nhất tránh biến cuộc tìm kiếm thành nhắm sẵn một người. Quan coi trường miễn cưỡng chấp thuận sau khi phường trưởng đề nghị lập thêm một bàn đối chiếu ngay tại phòng chủ sự. Ba viên khảo duyệt được gọi tới. Bài được che tên bằng giấy úp, chỉ đọc phần văn; một văn lại khác ghi số niêm sau khi đã đánh dấu. Thanh ngồi ngoài cửa, lưng thẳng, bàn tay phải giữ cổ tay trái để cơn run không lộ.
Mõ thu quyển vang lên khi nắng đã nghiêng khỏi mái đông. Từng hòm bài được đưa vào, khóa, ghi giờ rồi mới chuyển qua bàn đối chiếu. Phần lớn sĩ tử dùng những điển quen về trung hiếu, phép trị dân, người giữ tiết. Điển người xóa tên chỉ xuất hiện lần thứ hai ở bài Chu Minh Viễn và lần thứ ba trong một quyển khác gần cuối hòm thứ hai.
Viên khảo duyệt đọc chậm lại: “Kẻ ấy bỏ danh cũ để giữ thân, mượn danh mới để lập thân…”
Thanh ngẩng lên. “Đọc tiếp.”
“…đến khi danh danh đã định, mới dám trở về quê cũ.”
Hai chữ “danh” đứng liền nhau, không bị gạch. Cả căn phòng im đi.
Quyển thứ ba được mở số niêm dưới bốn người làm chứng. Nó thuộc ô bốn mươi sáu dãy nam, thí sinh Nghiêm Sách, quê Hà Châu. Bài của hắn không chép nguyên văn dải giấy, nhưng trình tự ba ý giống hệt: xóa tên khỏi sổ, mượn tên khác vào quan, trở về quê sau khi công danh đã định. Cụm “danh danh” nằm đúng vị trí chữ thừa trên bản nháp ô mười bảy.
Một viên khảo duyệt phản đối: “Có thể ba người cùng học một bản văn mẫu.”
Thanh gật đầu. “Có thể. Vậy phải tìm người dạy, nơi bán bản mẫu và thời điểm họ có nó. Nhưng trước khi tìm, xin ghi ba điều: ba thí sinh khác quê, ngồi ba dãy; một dải nháp đã đi từ ô mười bảy sang ô ba mươi hai; và cả ba bài giữ cùng một chữ thừa không có nghĩa.”
Nàng không gọi đó là đường dây. Chưa có chứng cứ cho phép. Nhưng khi ba tờ sao đoạn văn được đặt cạnh nhau, sự trùng hợp đã có hình: không phải một ý giống nhau, mà là cùng một vết lỗi truyền qua ba bàn tay.
Lương Cảnh Du đứng ngoài dây, sắc mặt đã trắng. “Nghiêm Sách là ai, ta không quen.”
“Chưa ai hỏi ngươi có quen hắn.” Đỗ Mạnh nói.
Thanh nhìn sang anh, khẽ lắc đầu. Ép người trong lúc hoảng chỉ làm lời khai chạy nhanh hơn sự thật. Nàng yêu cầu tách Lương Cảnh Du khỏi các thí sinh còn lại, không cho gặp Nghiêm Sách, nhưng cũng không cùm, không gọi hắn là phạm nhân. Bài của ba người, tờ nháp rách và dải giấy được niêm thành năm mục riêng. Các bản sao chỉ dùng đối chiếu, ghi rõ ai sao, ai đọc và ai giữ bản gốc.
Khi viên chủ sự viết đến chữ cuối, một lão văn lại phụ trách sổ tư cách thí sinh vẫn đứng bên giá hồ sơ bỗng lên tiếng: “Câu này… ta từng thấy.”
Quan coi trường quay lại. “Ở đâu?”
Lão văn lại không đáp ngay. Hắn bước tới chiếc hòm gỗ đặt dưới bàn, lấy ra một quyển sổ bìa xám có dây buộc của Hình bộ. Đó là sổ chuyển sang trường thi để đối chiếu những thí sinh từng đổi quê quán, đổi hộ hoặc được phục hồi tên sau án cũ. Hắn lật qua vài trang, ngón tay run đến mức hai lần dính mép giấy.
Ở cột ghi chú cạnh một cái tên đã bị phủ mực, có một câu nhỏ viết chen giữa hai dòng: bỏ danh cũ để giữ thân, mượn danh mới để lập thân.
Và ở cuối câu, người viết cũng để lại hai chữ giống hệt nhau.
Danh danh.
Ống trúc của Thẩm Dao lạnh sát ngực Thanh. Nàng nhìn ba bài văn, rồi nhìn quyển sổ Hình bộ đang mở. Chữ thừa không còn là lỗi của một người chép vội.
Nó là dấu đánh lên những cái tên đã được đổi.
