Chương 49 - Chương 49: Bảng Vàng Chưa Treo
Chương 49: Bảng Vàng Chưa Treo
“Khóa sổ giờ qua cửa.”
Lục Thanh nói ngay khi cánh cửa thứ nhất khép sau lưng nam tử áo xanh. Nàng không nhìn theo nụ cười hắn để lại. Ánh mắt có thể là khiêu khích, cũng có thể chỉ là cách dò xem nàng đã biết đến đâu; thứ cần giữ lúc này là nét mực viên lại vừa viết xuống. Phường trưởng gọi người đọc lại hàng số mười bảy, giờ nhập trường và tình trạng hai nửa dấu trước mặt ba người. Thanh chép nguyên văn, Đỗ Mạnh ký làm chứng, còn Mạnh Nương giữ gói cuống phiếu dưới áo choàng.
Người áo nâu đứng cạnh bàn kiểm không ngăn họ. Hắn chỉ nhìn Thanh gấp giấy, rồi nói đủ nhỏ để đám sĩ tử phía sau không nghe: “Bảng đối danh để người dự thi xem, không phải để một ngỗ tác bị đình việc dựng án.”
“Ta chưa dựng án.” Thanh đáp. “Ta chỉ ghi ông đã muốn sửa hàng mười bảy mà không chịu để tên.”
Mảnh giấy gấp tư trong tay hắn bị siết đến nhàu. Hắn quay sang viên lại, dặn sau khi khóa cổng phải nộp toàn bộ giấy sửa sai về phòng nội vụ, rồi rời hành lang phía đông. Thanh không sai Đỗ Mạnh chặn. Một kẻ mang thẻ liên hệ Lễ bộ giữa cửa trường không thể bị giữ chỉ vì từng đứng ở đầu cầu. Nàng chỉ bảo anh đi theo đến nơi công khai cuối cùng, ghi đường rẽ và người hắn gặp, tuyệt đối không lục soát.
Phường trưởng niêm bản đối danh vào hòm gỗ sau lượt cuối. Trước khi đóng nắp, Thanh yêu cầu ông nhìn lại vết mực hình móc câu cạnh chữ “Du”. Vết ấy vẫn còn. Hàng mười bảy chưa bị thay, nhưng từ lúc bảng bị tháo xuống, quyền nhìn vào nó cũng khép lại cùng chiếc khóa đồng. Thanh ghi số vòng dây, vị trí nút niêm và tên người giữ chìa. Một tờ giấy sạch không tự bảo vệ được mình; phải có người nhớ nó đã sạch ở thời điểm nào.
Mạnh Nương giao cuống phiếu cho phường trưởng giữ tạm trong hòm riêng của phường, đổi lấy biên nhận ghi rõ vật chứng chưa được mở đối chiếu với cuống lưu bên trong. Bà không thích giao giấy cho công quyền, nhưng giữ nó trên người Thanh lúc này chỉ khiến mọi bước chân thành một cuộc truy đuổi. Trước khi về sân thuốc đổi người canh cho nơi trú ngoài thành, bà mang theo bản ghi thứ hai và dặn Thanh đừng để vai chảy máu thêm.
Thanh đứng dưới mái hành lang thêm một lúc. Bên trong tường cao, mõ lệnh đã đổi nhịp; sĩ tử bị dẫn về từng dãy phòng, giấy bút được phát theo số. Nam tử dùng tên Lương Cảnh Du đã biến khỏi tầm mắt, nhưng không biến khỏi quy trình. Hắn phải nhận giấy, nộp bài, lĩnh dấu ra vào như tất cả những người khác. Một thân phận giả càng đi sâu vào trường thi càng để lại nhiều nét chữ hơn.
Vai trái của Thanh đau thành từng nhịp ngắn. Nàng vừa định quay về cầu Nam Thủy thì một tiểu đồng ôm cuộn lụa đỏ chạy qua sân ngoài, suýt va vào dây chắn. Viên lính quát hắn tránh xa cổng trường. Cuộn lụa tuột khỏi tay, lăn trên nền đá, để lộ một hàng chữ vàng mới phác: “Mừng Tống công tử đề danh hàng thứ bảy.”
Bảng vàng chưa treo. Đề thi còn chưa phát hết.
Thanh không nhặt. Tiểu đồng cuống quýt cuộn lụa lại, chạy sang Vạn Tự phường đối diện. Người lính cười mắng nhà quyền quý thích lấy điềm lành, nhưng Thanh nhìn theo mảng vàng vừa biến qua cửa. Một lời chúc sớm có thể chỉ là nịnh. Một thứ hạng viết sẵn lại là chuyện khác.
Nàng ghi giờ nhìn thấy, vị trí và nguyên câu chữ rồi đi sang cửa hiệu, đứng ngoài ngạch. Chủ phường đang quát tiểu đồng vì để lộ hàng. Thấy áo xám của Thanh, ông lập tức kéo rèm che bàn viết.
“Ta không có lệnh khám,” Thanh nói. “Ông có thể không cho ta vào. Ta chỉ hỏi cuộn lụa ấy được đặt trước hay sau khi trường khóa cổng.”
“Đồ mừng thi thì nhà nào chẳng đặt trước. Có người đặt cả ba thứ hạng, đỗ đâu dùng đó.”
“Vậy ông có ba cuộn mang tên Tống Hành Chu?”
Ông ta im lặng. Sau rèm có ba cuộn thật, nhưng chỉ một cuộn mang chữ đã phác. Hai cuộn còn lại là lụa trơn.
Đúng lúc ấy, Đỗ Mạnh xuất hiện ở đầu phố. Anh đưa Thanh mảnh giấy ghi đường theo dõi. Người áo nâu đã rời trường, vòng qua hai ngõ, vào cửa sau Vạn Tự phường rồi đi tiếp đến cổng phụ Tống phủ. Anh không thấy hắn mang hàng ra, chỉ thấy quản sự cửa hiệu nhận một túi bạc và đốt giấy nháp trong lò.
Chủ phường nghe đến “cổng phụ Tống phủ” thì mặt mất màu. Đỗ Mạnh chìa thẻ bộ khoái, yêu cầu giữ nguyên sổ đặt hàng và lò tro cho đến khi phường trưởng tới lập biên bản. Thanh vẫn đứng ngoài, không chạm bất cứ thứ gì. Người áo nâu đã mong nàng vượt dây chắn ở trường thi; nàng sẽ không cho hắn một lỗi tương tự trước cửa hiệu.
Phường trưởng đến sau nửa khắc, mang hai người làm chứng. Sổ đặt hàng được mở ngay trên quầy. Dòng của Tống phủ ghi ba cuộn lụa đỏ, nhưng phần nội dung chỉ có một câu hoàn chỉnh: “Mừng trưởng công tử Tống Hành Chu đề danh hàng thứ bảy.” Ngày đặt là hai ngày trước khi khóa trường. Dưới dòng ấy có ký hiệu giao vào giờ Mùi hôm nay, không phải sau ngày yết bảng.
“Nhà họ đặt lời lành,” chủ phường nói. “Ta chỉ làm theo.”
Thanh nhìn nét sửa ở chữ “bảy”. Mực dưới nét cuối đậm hơn, như từng viết một chữ khác rồi chữa lại. “Ai đọc câu này cho ông ghi?”
“Quản sự Tống phủ.”
“Người áo nâu vừa tới nói gì?”
Ông ta nuốt khan. “Hắn bảo đổi giờ giao, đem lụa vào phủ trước giờ Dậu. Hắn còn dặn đốt bản nháp vì trên đó viết sai thứ hạng.”
Phường trưởng hỏi: “Sai thành bao nhiêu?”
Chủ phường không đáp. Tro trong lò chưa bị đảo. Theo lệnh phường trưởng, từng mảnh được gắp bằng kẹp tre lên khay gốm. Phần lớn chữ đã cháy, song một góc giấy còn nguyên chữ “năm” mất nửa dưới.
“Ban đầu họ nói hàng thứ năm,” chủ phường cuối cùng thú nhận. “Sáng nay người kia tới đổi thành hàng bảy. Hắn nói danh sách trong đã dịch hai chỗ, phải sửa cho khớp.”
Tiếng mõ từ trường thi vọng qua tường, đều và khô. Thanh nhìn dòng đặt hàng, rồi nhìn mảnh tro. Chúng chưa chứng minh Tống Hành Chu mua đề, cũng chưa chứng minh bảng vàng thật sẽ ghi hắn thứ bảy. Nhưng chúng cho thấy người của Tống phủ đang sửa một thứ hạng cụ thể theo tin nhận từ bên trong, trong lúc thí sinh còn chưa viết xong bài đầu.
“Lập ba bản,” Thanh nói. “Tình trạng sổ, lời khai và niêm tro. Không dùng chữ ‘gian lận’. Chỉ ghi đúng câu hắn nói: ‘danh sách trong đã dịch hai chỗ’.”
Một lời chúc sớm có thể bị gọi là khoe khoang; một mảnh tro có thể bị gọi là giấy nhầm. Muốn biến chúng thành chứng cứ, nàng phải tìm được “danh sách trong” là danh sách nào, ai được nhìn nó, và vì sao thứ hạng đã đổi trước khi bài thi được chấm.
Khi biên bản vừa niêm xong, bóng nắng đã chạm chân cầu Nam Thủy. Thanh giao Đỗ Mạnh ở lại cùng phường trưởng rồi đi về phía cầu. Nàng đứng trên lan can nhìn mặt nước cho đến khi một đốm sáng trắng hiện dưới vòm, bị gió thổi nghiêng rồi dựng thẳng.
Dao đã về được Hầu phủ. Dao cũng đã lấy được thứ cần gửi.
Dưới nhịp cầu thứ ba không có người. Chỉ một chiếc đèn giấy trắng treo thấp và ống trúc nhỏ buộc sau chân đèn. Thanh kiểm sợi dây, dấu sáp và vết nước trước khi mở. Bên trong là mảnh giấy viết bằng lối chữ đều của Dao, không ký tên.
“Tống phủ sáng nay sai người tới báo với phụ thân: hôn lễ nên định sớm vì Hành Chu đã ở trong bảy tên đầu. Người nói lỡ miệng nhắc ‘bản thứ hai’. Ta nghi không chỉ có đề thi bị mua, mà còn có bảng xếp trước khi chấm. Chưa có chứng cứ đủ sạch. Đừng đến Hầu phủ.”
Dòng cuối ngắn hơn: “Cổng tro đã bị thay khóa.”
Thanh đọc hai lần. Nàng không chạm vào chữ “đừng” lâu hơn những chữ khác, nhưng vai trái bỗng đau rõ đến mức hơi thở khựng lại. Dao đã trở về an toàn đủ để gửi tin, đồng thời mất đường ra cuối cùng. Nàng bị khóa trong phủ cùng một hôn ước mà người được chọn làm chồng đã biết thứ hạng của mình trước khi bảng vàng có thể tồn tại.
Thanh đặt mảnh giấy lại vào ống trúc, ghi tình trạng và giờ nhận lên giấy riêng. Thư của Dao chỉ là lời báo, nhưng nó độc lập khớp với sổ đặt hàng và lời khai ở Vạn Tự phường: bảy tên đầu, hàng thứ bảy, bản thứ hai, danh sách dịch hai chỗ. Những cụm từ chưa thành kết luận, song cùng chỉ về một nơi bên trong trường thi.
Tiếng chân chạy dồn trên mặt cầu cắt ngang dòng suy nghĩ. Một sai dịch phường Nam Thủy lao xuống bậc đá, mặt trắng bệch. Hắn vốn tìm Đỗ Mạnh, nhưng thấy Thanh thì khựng lại.
“Trong trường có chuyện. Một thí sinh không về ô sau lúc lĩnh nước. Người ta vừa thấy dây gầu mắc dưới giếng phía tây.”
Thanh hỏi: “Đã kéo chưa?”
“Chưa. Quan coi trường đang gọi người nha môn.”
“Đỗ Mạnh ở Vạn Tự phường. Dẫn đường cho ta đến ngoài cổng. Ta không vào nếu chưa có lệnh.”
Thanh dập đèn trắng, giấu ống trúc vào lớp áo trong rồi lên cầu. Khi nàng tới cửa tây trường thi, người đã dồn thành vòng kín quanh sân giếng. Đỗ Mạnh vừa được gọi tới từ cửa hiệu, đứng trong dây chắn, không cho ai chạm thành giếng. Quan coi trường nhìn thấy Thanh ngoài cổng thì mặt tối lại, nhưng tiếng ròng rọc đã rít lên trước khi ông kịp đuổi.
Hai lính kéo dây, một người giữ móc sắt. Nước giếng tràn qua mép gầu, mang theo một ống tay áo màu xanh nhạt.
Rồi bàn tay của một người chết nổi khỏi bóng tối.
Mực đen bám kín hai đầu ngón tay, không tan hết trong nước.
