Bỏ qua nội dung

Vo Quy Ky

Chương 50: Người Ở Lại Trong Sử Cũ

Chương 50: Người Ở Lại Trong Sử Cũ

Tôi tỉnh lại trong tiếng mưa gõ lên kính cửa sổ.

Âm thanh ấy rất nhỏ, đều và lạnh, không giống tiếng mưa rơi trên mái ngói Tàng Thư Các. Không có mùi gỗ ẩm, không có khói giấy cháy, không có áo bào đen ướt nước đứng giữa lửa trắng. Chỉ có mùi thuốc sát trùng, tiếng máy theo dõi nhịp tim và ánh đèn bệnh viện trắng đến làm mắt tôi đau. Tôi nằm im rất lâu, tưởng chỉ cần mình không cử động, cánh cửa kia sẽ mở thêm một lần nữa, trả tôi về khoảnh khắc đầu ngón tay Hoài Trầm còn chạm vào tay tôi.

Nhưng người đầu tiên gọi tên tôi không phải hắn. Là y tá trực đêm, giọng rất khẽ: “Nguyễn An Chi, cô nghe được tôi nói không?”

Nguyễn An Chi. Ba chữ ấy rơi xuống tai tôi như một con dấu đóng lại. Tôi đã trở về. Không còn Tô Vãn Ninh, không còn nữ quan Tàng Thư Các, không còn án phản quốc treo trên cổ. Tôi chỉ là một chuyên viên phục chế cổ thư vừa được cứu khỏi vụ cháy kho lưu trữ, nằm trên giường bệnh với cổ họng khô rát vì hít khói và mu bàn tay cắm kim truyền dịch. Mọi thứ trong thế giới này đều hợp lý đến tàn nhẫn. Hỏa hoạn, ngất xỉu, cấp cứu, theo dõi. Không ai cần một triều Đại Lương để giải thích vì sao tôi khóc.

Tôi giơ tay lên. Cổ tay trái sạch sẽ, không còn chữ Vô, không còn vệt mực lan như rễ cây dưới da. Chỉ có một vết bỏng mỏng ở gần mạch đập, hình dáng mơ hồ giống nét bút cuối bị nước làm nhòe. Tôi nhìn nó đến cay mắt. Ở Đại Lương, vết mực ấy từng là lời nhắc rằng tôi không thuộc về nơi đó. Về đến hiện đại, dấu bỏng này lại nhắc rằng tôi cũng không còn nguyên vẹn thuộc về nơi này.

Chị phụ trách kho lưu trữ đến thăm tôi vào sáng hôm sau. Chị mang theo hoa, một túi cháo trắng và vẻ mặt của người đã chuẩn bị sẵn rất nhiều lời an ủi. Chị kể đêm đó hệ thống chữa cháy kích hoạt kịp thời, lửa bị khoanh lại trong khu phục chế, không lan sang kho chính. Tôi bị tìm thấy dưới bàn thao tác, cạnh tủ bảo quản bị ám khói. Camera chỉ ghi được cảnh tôi quay lại lấy một hộp tài liệu trước khi khói che kín ống kính. Không có ánh sáng lạ. Không có cánh cửa. Không có người đàn ông nào gọi tên tôi qua lửa.

“Em bị sốc sau tai nạn thôi,” chị nói, khi tôi hỏi về Đại Lương lần thứ ba. “Bác sĩ bảo người hít khói và thiếu oxy có thể lẫn lộn ký ức. Em nghỉ ngơi đã, đừng ép mình nhớ lại quá nhiều.”

Tôi gật đầu, vì không biết phải phản bác thế nào. Tôi từng dùng giấy, mực, dấu triện và vết cháy để ép sự thật đứng dậy trước mặt người khác. Vậy mà giờ đây, đến lượt mình, tôi không có một chứng cứ nào. Tôi không thể nói với họ rằng tôi đã từng chết thay một người đã chết từ ngàn năm trước, từng cứu một cô nương tên Tô Vãn Ninh khỏi oan danh, từng yêu một người sống trong sử cũ đến mức thà rời đi còn hơn để hắn chết thay mình. Những lời ấy nếu nói ra, chỉ khiến người ta gọi thêm bác sĩ.

Ba ngày sau, khi bác sĩ cho phép tôi rời phòng bệnh trong một buổi chiều ngắn, tôi xin được quay lại viện. Chị phụ trách kho lưu trữ do dự rất lâu mới đồng ý, với điều kiện tôi chỉ được nhìn qua phòng kính. Chiếc xe đi qua những con đường ướt nước mưa, qua biển hiệu, đèn đỏ và dòng người vội vã hiện đại. Tôi nhìn tất cả, bỗng thấy thế giới của mình vừa quen vừa xa. Đại Lương giống một giấc mộng quá dài. Nhưng nếu là mộng, vì sao trong lòng tôi vẫn đau như vừa bị xé ra một nửa?

Kho lưu trữ sau cháy yên tĩnh hơn tôi nhớ. Những kệ thép được phủ bạt chống bụi, nền gạch còn loang vệt nước, trong không khí vẫn có mùi khói nhạt bám ở đáy cổ họng. Qua lớp kính, tôi thấy chiếc hộp bảo quản màu xám đặt trên bàn trung tâm. Trên nhãn niêm phong có ba chữ tôi đã nhìn đến thuộc lòng: Vô Quy Ký. Bìa sách cháy sém nặng hơn trước, mép giấy đen giòn, nhưng phần ruột được cố định bằng dây lụa bảo tồn. Kỳ lạ là những trang từng mờ đến không đọc nổi giờ hiện chữ rõ ràng, nét mực trầm xuống mặt giấy như đã chờ qua rất nhiều năm để được ai đó mở ra.

“Bọn chị chưa giải thích được,” chị phụ trách nói sau lưng tôi. “Trước vụ cháy, bản này thiếu gần một nửa nội dung. Sau khi hong khô tạm thời, các lớp muội bong ra, chữ bên dưới lại hiện rõ. Có thể là kỹ thuật mực ẩn cổ, nhưng cần kiểm nghiệm thêm.”

Tôi đặt tay lên mặt kính. Mực ẩn. Muội bong. Kiểm nghiệm thêm. Thế giới hiện đại luôn có cách gọi bình tĩnh cho những điều khiến lòng người sụp xuống. Tôi muốn cười, nhưng khóe môi không nhúc nhích nổi. Nếu Vô Quy Ký thật sự hoàn chỉnh, vậy nghĩa là mọi thứ đã kết thúc. Án Lục thị được trả lại. Hứa gia bị xét tội. Tô Vãn Ninh không còn là nữ quan phản quốc. Và Lục Hoài Trầm đã phải sống tiếp ở một nơi không còn tôi.

Một tuần sau, tôi được phép chạm vào bản sách dưới sự giám sát của phòng phục chế. Tôi rửa tay, đeo găng, ngồi trước bàn kính như vô số lần từng làm trước đây. Chỉ khác là lần này, tôi không còn là người cứu một quyển sách chết khỏi tro bụi. Tôi là người tìm xác nhận rằng một đời mình từng sống thật đã không bị xóa sạch. Trang đầu ghi về năm Đại Lương loạn án quân lương, nét chữ cổ đều và lạnh. Tôi đọc thấy Hứa thị bị giáng tội, lời khai của Hứa Thanh Diên được chép vào án, Cố Tử Khiêm và Thẩm Như Sơ được nhắc như hai người góp phần phục chứng cứ. Tôi đọc thấy Tô Vãn Ninh được rửa oan, tên nàng được trả về Tàng Thư Các bằng một dòng ngắn ngủi: nữ quan Tô thị, bị hại vì giữ bản ghi sai sử, sau được truy phục thanh danh.

Không có Nguyễn An Chi.

Tôi biết điều đó trước khi đọc, nhưng vẫn đau. Lịch sử vốn chỉ ghi thứ nó có thể giữ. Nó giữ án thư, quân tịch, chiếu chỉ, tên họ của người có vị trí trong triều. Nó không giữ một linh hồn đi lạc, không giữ bàn tay run rẩy của tôi khi quấn dây đỏ quanh trâm gỗ, không giữ câu tôi nói với hắn trong lửa trắng. Tôi từng trách sử sách lạnh lùng. Đến cuối cùng, chính sự lạnh lùng ấy lại là bằng chứng rằng tôi đã làm đúng: người chết được trả danh, người sống được trả đường, chỉ có tình yêu của tôi bị đặt vào phần không thể chú giải.

Tôi lật tiếp. Những trang sau kể rằng Lục Hoài Trầm tiếp tục trấn biên Bắc thêm ba mươi năm, nhiều lần dâng sớ sửa quân lương, mở kho cứu dân trong những mùa tuyết lớn, không còn để một dòng vận lương nào bị bẻ cong bởi quyền quý kinh thành. Hôn ước với Hứa Thanh Diên được hủy sau án Hứa thị; về sau nàng rời Vân Đô, sống lặng lẽ ngoài kinh. Tiêu Trọng mất chức sử quan, nhưng bản phụ lục cuối đời của ông vẫn còn một câu: người ghi sử không cứu được tất cả, chỉ mong đừng giết thêm người bằng một nét mực sai.

Tôi đọc đến tên Hoài Trầm chậm hơn những dòng khác. Sử chép hắn sống rất lâu. Lục Hoài Trầm không chết thay tôi. Hắn đã nghe lời tôi, hoặc có lẽ hắn chưa từng tha thứ cho lời ấy, nhưng vẫn sống. Sống qua những mùa mưa không có người cùng đứng dưới hiên, sống qua những bữa cơm không ai chê cháo mặn, sống qua một đời dài đến mức người đời chỉ còn nhớ hắn là vị tướng quân nghiêm cẩn giữ biên cương.

Trang cuối cùng không giống phần sử chính. Giấy ở đó mỏng hơn, màu vàng sẫm, mép trang có vệt đen hình cánh cửa. Tôi gần như nín thở khi thấy một dòng chú nhỏ được ép vào khoảng trống bên dưới niên biểu cuối đời của hắn: Khi dọn phủ Lục sau ngày tướng quân mất, người hầu tìm thấy trong hộp gỗ một trâm đào buộc dây đỏ, cháy sém một đoạn nhưng không gãy. Bên trong hộp có mảnh giấy đề bốn chữ: trả về cố nhân.

Tôi không nhớ mình đã khóc từ lúc nào. Nước mắt rơi xuống mặt kính bảo vệ, không chạm được vào trang sách, cũng như tôi không chạm được vào hắn nữa. Tôi chỉ có thể ngồi trong căn phòng sáng trắng của hiện đại, nhìn một đời của người tôi yêu bị nén lại thành vài hàng sử cũ. Hắn đã ở lại. Ở lại trong Đại Lương, trong mưa, trong tro giấy, trong những năm tháng không ai thay tôi gọi tên hắn. Và hắn thật sự đã sống tiếp.

Tôi định khép sách lại thì thấy dưới mép trang cuối có một lớp giấy dán rất mỏng, gần như hòa vào sợi xơ. Đó không phải phần đóng quyển ban đầu. Tôi dùng nhíp phục chế gạt nhẹ, động tác quen thuộc đến mức tim đau nhói. Lớp giấy tách ra, để lộ một hàng chữ nhỏ hơn, không phải nét của sử quan. Nét chữ ấy rất trầm, rất chắc, như người viết đã đặt tay xuống sau một đời dài không còn gì để vội.

Người không thuộc về nơi này, cuối cùng vẫn phải về nơi của nàng.

Tôi che miệng, nhưng tiếng nức nở vẫn bật ra. Bao nhiêu ngày tự nhủ mình không điên, bao nhiêu đêm tỉnh dậy vì tưởng nghe tiếng hắn gọi, bao nhiêu lần nhìn cổ tay sạch trơn mà sợ tất cả chỉ là ảo giác, cuối cùng đều dừng lại trước hàng chữ ấy. Hoài Trầm không biết tôi có đọc được không. Hắn chỉ để lại nó như người thả một chiếc đèn xuống dòng sông quá rộng, không chắc bờ bên kia có ai nhìn thấy. Nhưng tôi nhìn thấy.

Phía ngoài cửa kính, mưa vẫn rơi. Tôi đặt tay lên trang sách, cách hắn bằng một lớp thời gian mỏng đến vô vọng, rồi cúi đầu rất lâu. Tôi không nói tạm biệt nữa. Năm ấy chúng tôi đã không kịp nói, về sau cũng không cần nói. Có những người không thể cùng đi đến cuối đường, nhưng vẫn trở thành cách ta sống tiếp phần đời còn lại. Tôi là người trở về. Còn hắn, người ở lại trong sử cũ, đã dùng cả đời để trả lời tôi.

Dưới hàng chữ cuối cùng, mực đã phai đi một chút, nhưng vẫn đủ rõ để tôi đọc được từng nét.

Ta đã đợi nàng cả một đời.