Bỏ qua nội dung

Loi Khai Cuoi Cung

Chương 65 - Chương 65: Tên Trong Nhật Ký

Chương 65: Tên Trong Nhật Ký

Thư ký chưa kịp tắt màn hình bảng thời gian thì An Nhiên đã đặt một túi bảo quản khác lên bàn. Bên trong chỉ có một cuốn sổ bìa vải bạc màu, mép dưới cong lên vì từng ngấm nước. Gia Minh nhìn thấy nó trước khi cô nói tên tài liệu. Ngón tay giữ tập hồ sơ Đại Tín khựng lại đúng một nhịp.

“Bên nguyên đề nghị xem xét lại nhóm trang đã được giám định trong nhật ký của Nguyễn Thảo Vy,” An Nhiên nói. “Không phải để chứng minh mọi điều người đã mất viết đều đúng. Chúng tôi đề nghị dùng ba đoạn ghi chép cùng thời điểm với các email và nhật ký cuộc gọi đã được xác thực, nhằm làm rõ nguồn của danh sách nhân chứng bị lộ và chuỗi gây sức ép trước khi cô Vy rút yêu cầu khẩn cấp.”

Gia Minh đứng dậy. “Phản đối. Người viết không thể bị kiểm tra chéo. Các chữ viết tắt không xác định được danh tính, còn trạng thái tinh thần của cô Vy trong giai đoạn đó từng là vấn đề tranh chấp.” Giọng anh không cao, nhưng từng giới hạn được đặt ra chính xác.

An Nhiên không tranh cãi với phần đúng. “Tôi đồng ý nhật ký không thể một mình xác định người được viết tắt là T.G.M., cũng không thể thay lời khai trực tiếp về một cuộc trao đổi. Vì vậy chúng tôi không dùng nó một mình.” Cô đặt cạnh túi bảo quản ba tài liệu đã có mã: kết luận giám định chữ viết, bản trích xuất hộp thư nội bộ Đại Tín do chính phía bị đơn giao nộp và nhật ký cuộc gọi từ số bàn của phòng chiến lược sáu năm trước. “Chúng tôi đề nghị đối chiếu thứ tự, không yêu cầu tòa tin một cuốn sổ vì nó khiến người nghe đau lòng.”

Thẩm phán xem lại danh mục. Việc xác thực cuốn sổ đã được thực hiện ở giai đoạn trước: mẹ của Vy giao bản gốc cho văn phòng An Bình trước sự chứng kiến của Mai Hạnh; từng trang được chụp, đánh số, lập mã kiểm tra và niêm phong. Giám định xác nhận chữ viết trùng với đơn từ, thư tay và mẫu chữ tại ngân hàng của Vy; giấy, mực không cho thấy dấu hiệu bổ sung sau thời điểm cô mất. Phía Đại Tín vẫn giữ quyền phản đối nội dung, nhưng không còn tranh chấp cuốn sổ là vật Vy từng sử dụng.

“Cho phép trong phạm vi đối chiếu,” thẩm phán nói. “Không coi chữ viết tắt là danh tính đã được chứng minh nếu thiếu nguồn độc lập. Không dùng cảm xúc của người viết thay cho sự kiện.”

An Nhiên mở bản sao phóng lớn, không chạm vào cuốn sổ gốc. Trang đầu tiên được viết tám ngày trước khi danh sách nhân chứng của vụ Vy bị lộ. Nét chữ nhỏ, ép sát lề. Cô chỉ vào một dòng: “T.G.M. nói bên kia đã biết có chị Thu và anh Phúc, bảo mình đừng gọi cô An lúc này.”

Gia Minh đứng lên ngay. “Chữ viết tắt.” “Đúng.” An Nhiên chuyển sang email nội bộ gửi lúc 21 giờ 14 cùng ngày, từ hộp thư của Tống Gia Minh đến trưởng nhóm tranh tụng Đại Tín. Tiêu đề chỉ có hai chữ: Rủi ro mới. Nội dung không ghi tên đầy đủ, nhưng liệt kê “nhân chứng Thu, nhân chứng Phúc” và yêu cầu chuẩn bị phương án tiếp cận trước khi bên nguyên nộp phụ lục. Danh sách chính thức chỉ được nộp sáng hôm sau.

“Phía bị đơn có tranh chấp nguồn gửi không?” thẩm phán hỏi.

Gia Minh nhìn màn hình. “Không tranh chấp hộp thư và thời điểm gửi. Chúng tôi tranh chấp việc suy diễn cách anh ta có được thông tin.” Anh nói “anh ta” như nói về một người khác, nhưng không ai trong phòng xử bỏ qua việc tên anh nằm ở đầu email.

An Nhiên chuyển sang trang thứ hai. Ba ngày sau, Vy ghi rằng bệnh viện yêu cầu thanh toán một khoản không có trong bảng dự toán cũ; công ty nơi cô làm việc thông báo tạm đình chỉ vì “ảnh hưởng uy tín”; một nhân chứng gọi lại, khóc và nói con mình vừa được chuyển trường. Mỗi sự việc riêng lẻ đều có thể được giải thích bằng một lý do hợp pháp. Nhưng nhật ký cuộc gọi, thư điện tử của bệnh viện và khoản chuyển từ công ty con của Hưng Thịnh đã đặt chúng trong cùng bốn mươi tám giờ.

“Dòng cuối trang,” An Nhiên nói, “không được đề nghị để chứng minh ai đã ra lệnh. Nó được dùng để giải thích vì sao cô Vy thay đổi lựa chọn sau khi các sức ép có thật đã đồng thời xuất hiện.” Cô đọc: “T.G.M. bảo ký thỏa thuận thì mọi chuyện sẽ dừng. Anh ấy nói cô An không cần biết, vì cô ấy sẽ làm mọi thứ khó hơn.”

Lần này Gia Minh không phản đối ngay. Luật sư bên cạnh anh nghiêng người nói nhỏ, nhưng anh chỉ lật đến bản email tiếp theo. Email đó do anh giao trong cuộc gặp trước phiên tòa. Trong thư, một lãnh đạo hãng yêu cầu anh “đưa thân chủ về trạng thái có thể quản trị” trước hạn xin biện pháp khẩn cấp. Gia Minh trả lời bằng một câu: “Tôi sẽ xử lý kênh liên lạc với N.T.V.”

“‘Xử lý kênh liên lạc’ không đồng nghĩa đe dọa,” anh nói. Câu phản biện vẫn đúng về mặt chữ. Nó cũng yếu hơn mọi câu anh đã nói từ đầu phiên.

“Không,” An Nhiên đáp. “Vì vậy tôi chưa dùng từ đe dọa.” Cô đặt lên màn hình nhật ký cuộc gọi. Trong hai ngày sau email, số bàn phòng chiến lược Đại Tín gọi cho Vy bảy lần, tổng cộng ba mươi tám phút; cùng khoảng thời gian đó, Vy không gọi được cho An Nhiên vì số của cô bị chuyển qua tổng đài nội bộ rồi ghi nhận là ‘không cần nối máy’. Cấu hình chuyển cuộc gọi được tạo từ tài khoản trợ lý nhóm của Gia Minh, nhưng hồ sơ không xác định ai trực tiếp bấm lệnh.

Gia Minh lập tức nắm lấy giới hạn đó. “Không xác định người thao tác.” “Đúng.” “Không có ghi âm bảy cuộc gọi.” “Đúng.” “Không ai còn sống xác nhận nội dung.” An Nhiên nhìn anh. “Còn một người.”

Cô không gọi tên anh như một nhân chứng. Luật sư không thể vừa đứng ở bàn đại diện vừa bị biến thành người làm chứng bằng một câu hỏi đẹp. Cô quay về phía thẩm phán. “Chúng tôi không đề nghị buộc luật sư phía bị đơn xác nhận nội dung từ vị trí hiện tại. Chúng tôi đề nghị ghi nhận xung đột tiềm tàng và bảo lưu quyền triệu tập ông Tống Gia Minh nếu phía bị đơn tiếp tục tranh chấp danh tính T.G.M.”

Luật sư ngồi cạnh Gia Minh đứng lên xin hội ý. Thẩm phán cho năm phút. Gia Minh không rời bàn. Anh mở tập hồ sơ mang dấu Đại Tín, lấy ra một văn bản đã chuẩn bị sẵn và đặt trước mặt đồng nghiệp. An Nhiên nhận ra trang đầu từ khoảng cách vài mét: thông báo thay đổi người phụ trách đại diện trong trường hợp phát sinh tư cách nhân chứng. Anh đã biết khoảnh khắc này có thể đến.

Khi phiên làm việc tiếp tục, Đại Tín không rút phản đối đối với nội dung nhật ký, nhưng tuyên bố không tranh chấp rằng chữ viết tắt T.G.M. trong ba trang được dùng để chỉ Tống Gia Minh, với điều kiện sự thừa nhận đó không bị xem là xác nhận mọi lời Vy ghi lại. Thẩm phán ghi đúng giới hạn. Không ai được phép biến một sự nhượng bộ thủ tục thành lời thú tội hoàn chỉnh.

An Nhiên mở trang cuối cùng. Nó được viết vào đêm trước khi Vy rút yêu cầu khẩn cấp. Không có câu buộc tội Hưng Thịnh, không có kế hoạch trả thù, cũng không có lời trăn trối được sắp đặt cho một phiên tòa tương lai. Chỉ có bốn dòng, chữ nghiêng dần về cuối: “Họ biết mình nợ bao nhiêu, biết mẹ đang ở đâu, biết ai đã đồng ý làm chứng. T.G.M. nói không ký thì sẽ không còn ai đứng cạnh mình. Cô An không biết. Mình đã không cho cô ấy biết.”

Trong sáu năm, An Nhiên đã nhớ cuộc gọi cuối cùng của Vy như một cánh cửa cô đóng quá sớm. Cô nhớ giọng mình cứng, nhớ đã yêu cầu Vy bình tĩnh, nhớ cảm giác khó chịu khi thân chủ không chịu kể hết. Cô từng dùng từng chi tiết ấy để dựng nên một bản án riêng, trong đó người có lỗi cuối cùng luôn là cô. Cuốn nhật ký không xóa phần cô đã bỏ lỡ. Nó chỉ đặt bên cạnh phần bỏ lỡ ấy một sự thật khác: có người đã chủ động làm cho Vy tin rằng im lặng là cách duy nhất để những người quanh cô được an toàn.

Gia Minh phản đối việc đọc dòng cuối vì nguy cơ gây định kiến vượt quá giá trị chứng minh. Thẩm phán im lặng lâu rồi chấp nhận một phần. Dòng chữ được ghi nhận để thể hiện trạng thái và lý do thay đổi hành vi của Vy, không phải để kết luận Gia Minh chịu trách nhiệm về cái chết của cô. Đồng thời, các email, cuộc gọi và dòng tiền đủ tạo căn cứ xem xét việc vụ Vy không phải một thất bại tố tụng tự phát mà là kết quả của một chuỗi cô lập có tổ chức.

An Nhiên đóng bản sao. Cô không thấy nhẹ nhõm. Người chết không trở lại chỉ vì lỗi lầm được chia đúng cho nhiều người hơn. Nhưng lần đầu tiên, tên Vy không còn nằm trong hồ sơ như một lời nhắc rằng An Nhiên đã thua. Nó trở thành tên của người đã ghi lại cách một hệ thống khiến mình không còn đường lui.

Thẩm phán yêu cầu hai bên chuẩn bị cho phần làm chứng của Vũ Kiến Thành vào sáng hôm sau, tập trung vào quan hệ giữa Hưng Thịnh, bệnh viện Minh Đức và các chỉ đạo “quản trị rủi ro” đã xuất hiện ở cả hai vụ. Thư ký đọc lại danh mục tài liệu. Trong lúc mọi người đứng lên, An Nhiên nhìn sang bàn đối diện.

Tống Gia Minh vẫn đặt tay trên văn bản thay đổi người đại diện. Anh không nhìn cô, không nhìn cuốn nhật ký, cũng không tìm cách giải thích rằng mình chỉ làm theo chiến lược của hãng. Khi thư ký đọc đến dòng “T.G.M. được xác nhận là Tống Gia Minh”, người đàn ông từng dạy An Nhiên không bao giờ cúi đầu trước một chứng cứ chưa khép kín đã chậm rãi cúi đầu.