Chương 64 - Chương 64: Mười Một Phút Trống
Chương 64: Mười Một Phút Trống
Thư ký vừa đặt phiếu carbon vào túi bảo quản mới thì Gia Minh đứng dậy. “Đề nghị tòa ghi rõ tài liệu chưa được chấp nhận về nội dung, chưa có kết luận giám định và không được dùng để suy diễn bất kỳ mốc thời gian nào.” An Nhiên vẫn nhìn hai con số sau lớp nhựa trong. Cô không cần đọc chúng thêm lần nữa. Khoảng cách mười một phút đã nằm trong đầu, cạnh khoảng camera tắt, lời Minh Châu về người áo phản sáng và bản ghi xe cứu thương đến sau khi chiếc điện thoại biến mất. Thẩm phán gật. “Ghi nhận. Tài liệu chỉ được đánh dấu để xác thực.”
“Tôi đề nghị tiếp tục với phần nền tảng kỹ thuật đã có trong danh sách nhân chứng,” An Nhiên nói. Gia Minh phản đối việc dùng tài liệu chưa được chấp nhận để dẫn dắt nhân chứng tiếp theo. “Tôi không hỏi nội dung của phiếu,” cô đáp. “Tôi hỏi cách đối chiếu những đồng hồ đã tồn tại trong hồ sơ.” Thẩm phán cho phép trong phạm vi hẹp. “Không được coi hai mốc trên phiếu là đúng cho đến khi xác thực.”
Đỗ Quang Sâm bước lên bục với một bìa kẹp mỏng. Sau phần tuyên thệ, An Nhiên đặt trước mặt ông sơ đồ cầu vượt Nam Phong đã được đánh dấu từ buổi tiền tố tụng. Ông xác nhận đã trực tiếp thu thập bản sao camera ở cửa hàng sửa xe phía bắc và bãi giao nhận phía nam, có chủ sở hữu và cán bộ lập biên bản chứng kiến. File gốc được sao bằng thiết bị chặn ghi, tạo mã kiểm tra rồi niêm phong; các mã không thay đổi từ lúc giao nộp đến hôm nay.
Gia Minh đứng lên. “Hai camera dùng đồng hồ nội bộ, không cùng máy chủ thời gian.” “Tôi đồng ý chúng không tự động là giờ thực,” An Nhiên nói. Câu thừa nhận khiến hàng ghế sau xao động nhẹ. Một đồng hồ sai không trở nên đúng vì luật sư nói lớn hơn. Cô hỏi Sâm về độ lệch. Camera cửa hàng chậm sáu phút mười bốn giây; camera bãi giao nhận nhanh một phút ba mươi tám giây tại thời điểm kiểm tra.
“Ông xác định bằng cách nào?” “Trong cả hai góc quay đều có cùng một xe cứu thương đi qua. Mã xe, dải phản quang và đèn nóc trùng nhau. Trung tâm điều phối có nhật ký phát lệnh bằng máy chủ mạng, thiết bị định vị trên xe ghi thời điểm qua hai điểm. Tôi đối chiếu cùng một vật chuyển động qua ba nguồn độc lập, rồi kiểm tra thêm bằng chu kỳ đèn giao thông. Sai số dao động dưới hai giây.”
An Nhiên đặt lên giá trình chiếu một bảng chỉ có bốn dòng: thời điểm camera cầu vượt ngừng truyền theo nhật ký bảo trì; thời điểm xe đen xuất hiện ở camera cửa hàng sau hiệu chỉnh; lúc xe cứu thương nhận lệnh; và lúc camera cầu vượt truyền hình trở lại. “Bảng này có dùng hai mốc trên phiếu carbon không?” “Không.” “Có dùng lời khai Minh Châu để sửa giờ không?” “Không.” “Chỉ từ các nguồn đã được xác thực, khoảng mất hình là bao lâu?” “Mười một phút lẻ hai giây.”
Gia Minh bước ra khỏi bàn. “Mười một phút mất hình không chứng minh có ai gây tai nạn. Camera vẫn có thể hỏng đúng lúc.” “Đúng,” Sâm nói. “Một xe đen đi qua cũng không chứng minh nó liên quan.” “Đúng.” Gia Minh quay sang thẩm phán. “Không có gì khác ngoài sự trùng hợp.” An Nhiên chờ anh ngồi xuống. “Chiếc xe xuất hiện ở camera phía bắc lúc nào sau hiệu chỉnh?” “Hai giờ bốn mươi mốt phút mười chín giây.” “Hướng đi?” “Vào nhánh dẫn lên cầu vượt.”
Nó xuất hiện ở camera phía nam lúc hai giờ năm mươi hai phút lẻ ba giây. Quãng đường nếu đi thẳng chỉ mất một phút mười đến một phút ba mươi giây; Sâm đã đo ba lần, lần chậm nhất một phút hai mươi tám giây. Giữa hai hình ảnh là mười phút bốn mươi bốn giây. Chưa đủ để nói chiếc xe đã va chạm với Hải Đăng, nhưng đủ buộc một câu hỏi khác xuất hiện: nó đã làm gì trong phần thời gian không có camera?
Gia Minh phản công ngay. “Nhận dạng cùng một xe từ bóng mờ là suy đoán.” Sâm nói ông không dựa vào màu sơn mà đối chiếu chiều dài tương đối, cụm đèn hậu, vị trí đèn phanh phụ, vết khuyết ánh sáng ở góc trái kính sau và chu kỳ nhấp của xi-nhan. Báo cáo chỉ ghi mức phù hợp cao, không nhận dạng tuyệt đối; không có biển số rõ, logo cũng không đủ để kết luận thuộc Hưng Thịnh. “Vậy điều ông có thể nói chắc?” An Nhiên hỏi. “Một phương tiện có cùng nhóm đặc điểm đi vào nhánh cầu vượt khi camera chính bắt đầu mất dữ liệu, rồi rời khu vực ngay trước khi dữ liệu trở lại. Nó ở lại lâu hơn nhiều thời gian cần để đi qua.”
Gia Minh tiến gần bục. Anh buộc Sâm thừa nhận từng bị rời ngành, có lợi ích trong việc chứng minh hồ sơ cũ bị sai, đã biết lời Minh Châu trước khi dựng bảng và có thể vô thức chọn điểm phù hợp. Sâm không né. “Vì thế tôi giữ file gốc, ghi cả khung không phù hợp, công khai công thức hiệu chỉnh và để người khác tính lại.” Hai camera không phải lựa chọn tùy ý: đó là hai nguồn duy nhất còn bản gốc ở hai đầu tuyến; mười lăm điểm khác không còn dữ liệu hoặc không nhìn vào đường.
“Bên nguyên đang dùng thiếu dữ liệu để biến khoảng trống thành bằng chứng,” Gia Minh nói. “Không,” An Nhiên đáp. “Tôi dùng dữ liệu còn lại để xác định giới hạn của khoảng trống.” Thẩm phán yêu cầu cô đặt câu hỏi. Cô buộc Sâm xác nhận dữ liệu camera không cho biết ai lái xe, không tự chứng minh va chạm và một mình nó không thể nói khoảng mất hình được tạo ra cho chiếc xe.
Cô chuyển sang nhật ký bảo trì đã được chấp nhận. Yêu cầu bảo trì giả được gửi trước tai nạn mười bảy phút và nhắm đúng camera nhìn xuống đoạn va chạm. Hệ thống không tự khởi động lại như lỗi thông thường; có lệnh tắt luồng và mở lại từ tài khoản kỹ thuật. “Hai lệnh nằm ở đâu so với hai lần phương tiện xuất hiện?” “Lệnh tắt trước lần thứ nhất ba mươi tám giây. Lệnh mở lại sau lần thứ hai mười chín giây.”
Phòng xử im đi. An Nhiên biết Minh Châu đang ở hàng ghế phía sau, có thể đang chờ một câu xác nhận rằng mình đã không nhìn nhầm. Nhưng đây chưa phải lúc cho cô ấy sự nhẹ nhõm dễ dàng. “Nếu bỏ toàn bộ lời khai Minh Châu khỏi phép tính, thứ tự có giữ nguyên không?” “Có.” “Nếu phiếu carbon của bác sĩ Lộc bị loại hoàn toàn?” “Không thay đổi.” “Nếu tính sai số tối đa hai giây?” “Không thay đổi.”
“Kết luận giới hạn của ông?” Sâm nói chậm: “Có một cửa sổ mười một phút được mở bằng thao tác kỹ thuật. Một phương tiện không rõ biển số đi vào ngay sau khi cửa sổ mở, ở lại lâu hơn thời gian đi qua bình thường và rời đi ngay trước khi cửa sổ đóng.” Gia Minh không phản đối. Anh chỉ nhìn bảng lâu hơn cần thiết, ngón cái giữ mép tập hồ sơ có dấu Đại Tín như từng làm trong những buổi chuẩn bị vụ Vy. Ký ức cũ muốn trồi lên, nhưng An Nhiên đẩy nó xuống. Phần này của vụ án không cần ký ức của cô; nó cần từng nguồn thời gian chịu được câu hỏi xấu nhất.
Thẩm phán cho đánh dấu bảng đối chiếu như tài liệu minh họa dựa trên các nguồn đã chấp nhận, đồng thời nhắc nó chưa chứng minh danh tính người lái hay nguyên nhân va chạm. Phiếu carbon của Lộc vẫn nằm riêng trong túi bảo quản. An Nhiên không xin thêm. Mười một phút không còn là khoảng trắng mà bên nào muốn viết gì cũng được. Nó có điểm mở, điểm đóng, một chiếc xe đi vào và đi ra.
Trước khi phiên làm việc tạm nghỉ, thư ký chuyển thông báo sơ bộ từ đơn vị giám định: mực ở hai mốc giờ trên phiếu carbon có cùng tuổi tương đối với phần ghi nhận ban đầu; chưa thấy dấu viết chèn sau. Gia Minh yêu cầu thời gian kiểm tra và tòa chấp nhận. An Nhiên không mỉm cười. Một kết quả sơ bộ chưa biến tài liệu thành sự thật, cũng không sửa được sáu năm im lặng của Lộc.
Sâm xin bổ sung một chi tiết vào biên bản kỹ thuật. “Trong lần đo thực địa thứ ba, tôi thử tất cả lối rẽ hợp pháp giữa hai camera. Không có lối nào khiến hành trình kéo dài mười phút bốn mươi bốn giây mà vẫn đưa xe trở lại đúng hướng đó. Muốn có quãng thời gian ấy, xe phải dừng trong vùng mất hình hoặc quay vào đường dịch vụ bị cấm.” Ông nhìn thẳng vào bảng. “Nó không thể chỉ vô tình đi ngang qua.”
