Chương 38 - Chương 38: Sổ Nợ Không Ghi Tiền
Tiếng vó ngựa ngoài đầu ngõ chưa dứt, Lục Thanh đã nghe tiếng khóa cửa tầng dưới bật thêm một lần. Người của nha môn đến không chỉ để nhận thi thể. Họ đến với dây niêm, hòm công văn và quyền gọi mọi thứ trong Lưu Hương là vật chứng. Mạnh Nương đứng đối diện nàng, ánh mắt không rời cuốn sổ mở dưới đèn. Câu hỏi bà vừa ném ra vẫn nằm giữa gian phòng: nói thật thế nào để sự thật không giết thêm người.
“Chưa ai gấp sổ.” Thanh nói. “Cũng chưa ai đọc tên thành tiếng.” Phường trưởng nhíu mày, nhưng vẫn ra hiệu cho người ghi lời đặt bút xuống. Thanh không chạm vào giấy. Nàng cúi thấp, nhìn nghiêng theo mặt trang để ánh đèn lướt qua từng nét mực. Mực đen đã ăn sâu vào thớ giấy, viền chữ ngả nâu ở những chỗ cũ. Những nét đỏ lại nằm trên mặt giấy, mảnh hơn, có chỗ còn giữ ánh son tối. Hai loại mực không được viết cùng lúc, cũng không phải bởi cùng một bàn tay.
Thanh chỉ vào một dòng có ngày chết sớm hơn ngày đến ba hôm. “Cột này không phải ghi người chết trong quán.” Mạnh Nương không đáp ngay. Dưới nhà, tiếng bộ khoái gọi phường trưởng vọng lên. Bà nhìn cánh cửa rồi nói: “Sổ có từ đời chủ cũ. Chữ đen ghi việc giao người. Tên hoa là tên dùng trên đường, ngày đến là ngày giao tới nơi nhận, không nhất thiết là Lưu Hương. Tên cũ để đối chiếu lúc người mua trả thiếu hoặc đòi đổi. Ngày chết là ngày cái tên ấy bị xóa khỏi hộ tịch.”
“Còn dấu đỏ?” Thanh hỏi. Mạnh Nương kéo tay áo lên vừa đủ để lộ vết sẹo ngang cổ tay. “Là phần ta thêm sau khi giữ quán. Một nét đỏ nghĩa là ta đã tận mắt thấy người ấy còn sống sau ngày bị ghi chết. Hai chấm nghĩa là đã đưa nàng khỏi chỗ cũ. Không có dấu, ta không biết nàng còn sống hay đã bị giết thật.” Người dẫn tuần bật ra một tiếng cười khô. “Bà vừa nhận sửa sổ để che người.” “Ta đánh dấu để khỏi đưa một người sống trở lại tay kẻ đã bán nàng.” Mạnh Nương đáp. “Nếu ông gọi đó là tội, ít nhất cũng gọi cho đúng.”
Thanh nhìn những nét đỏ rải giữa các hàng tên. Chính chúng biến cuốn sổ từ danh sách mua bán thành danh sách nhân chứng sống. Nếu nộp nguyên vẹn, nha môn có thể lần theo đường dây; cũng có thể lần theo từng nữ tử đang trốn. Nếu xé bỏ dấu đỏ, chuỗi chứng cứ sẽ bị cắt, Mạnh Nương thành kẻ hủy vật chứng, còn những người đã chết thật sẽ tiếp tục bị lẫn với người sống. Một cuốn sổ không ghi tiền, nhưng mỗi nét trong đó đều buộc ai đó phải trả bằng thân phận.
Mép ba trang giữa sạch hơn lớp bụi còn lại. Thanh hỏi vì sao. Mạnh Nương im một nhịp rồi nói: “Ba đêm trước, Cúc hỏi ta một chuyện. Nàng hỏi một người đã chết trên giấy, nếu bị giết thật thì nha môn sẽ nghiệm dưới tên nào.” Đầu ngón tay Thanh lạnh đi. “Bà đã mở sổ cho nàng?” “Không. Ta chỉ tự kiểm một dòng. Cúc nói nàng nhặt được thẻ gỗ của một người đã chết, muốn biết cái tên ấy đã từng được giao qua đâu.” “Tên gì?” “Nàng chưa kịp nói. Có tiếng khách gọi dưới nhà, nàng bỏ đi. Sáng sau, nàng bắt đầu mệt.”
Vệt sạch trên mép giấy là do Mạnh Nương lật gần đây, không chứng minh có người đột nhập. Nhưng chiếc chìa khóa trong áo vị khách vẫn cho thấy hắn đến để mở ngăn. Thanh nhìn thẻ tre bị cắt nằm cạnh bọc vải dầu. Ba vạch khía trên thẻ cách nhau đúng bằng ba trang vừa được lật. “Đây là thẻ đối sổ. Một nửa chỉ nhóm trang, nửa kia ở chỗ người nhận. Ghép lại mới biết phải mở phần nào.” Mạnh Nương lắc đầu. “Ta chưa từng có nửa kia.” “Vậy người chết có chìa khóa, nhưng chưa chắc biết tìm trang nào.”
Cánh cửa gian sổ bị gõ ba tiếng dồn dập. Phường trưởng ra mở. Một viên thư lại nha môn bước vào trước, áo ngoài còn dính hơi sương, sau lưng là bốn bộ khoái và Đỗ Mạnh. Đỗ Mạnh chỉ kịp liếc Thanh một cái rồi đứng sang bên, mặt căng hơn thường ngày. Viên thư lại đưa công văn đóng dấu tạm quyền, đọc lệnh niêm phong Lưu Hương, thu toàn bộ giấy tờ và đưa những người có mặt về nha môn lấy lời khai. Người dẫn tuần lập tức chỉ vào cuốn sổ như thể vừa tìm được cách đẩy mọi nghi ngờ sang Mạnh Nương.
Phường trưởng đưa tờ ghi đêm đã đóng dấu phường. Viên thư lại đọc rồi nhếch môi. “Phường chỉ giữ trật tự. Án mạng thuộc nha môn.” “Vậy xin ông ghi vào biên nhận rằng ông hủy quy định ấy.” Thanh nói. “Ghi cả việc ông nhận giấy hộ tịch trắng, chìa khóa mở ngăn bí mật và cuốn sổ có tên người bị khai tử. Sau đó mới tách họ đi hỏi.” Viên thư lại nhìn nàng. “Lục ngỗ tác đang bị đình việc, lấy gì dạy nha môn làm án?” “Ta chỉ nhắc người nhận vật chứng phải để lại dấu trên đường nó đi.”
Đỗ Mạnh ho khẽ, như vô tình đặt hòm dây niêm xuống ngay giữa bàn. “Lệnh chỉ nói thu giấy tờ liên quan hai người chết.” anh nói. “Không nói được đọc công khai mọi tên trước khi lập mục lục.” Viên thư lại quay sang, nhưng Đỗ Mạnh đã cúi đầu như một bộ khoái chỉ biết chữ trong lệnh. Thanh hiểu anh đang cho nàng một khe hẹp, không hơn. Nàng nói: “Cuốn sổ có liên quan vì người chết mang chìa khóa. Nhưng từng cái tên trong đó chưa tự nhiên liên quan đến án. Phải đếm trang, ghi tình trạng, niêm toàn bộ trước. Sau đó mới mở từng phần theo căn cứ.”
“Không.” Mạnh Nương nói. Giọng bà rất thấp, nhưng cả phòng đều nghe. “Sổ vào nha môn thì ngày mai những dấu đỏ sẽ thành đường dẫn. Các cô gái dưới kia chưa kịp chạy khỏi một ngõ đã bị gọi về đối chất.” Viên thư lại cười lạnh. “Bà không có quyền giữ chứng cứ giết người.” “Ông cũng chưa có quyền dùng nó làm sổ bắt người.” Mạnh Nương đáp. Bàn tay bà đặt bên hông, không chạm vào sổ, nhưng Thanh thấy khớp ngón tay đã trắng.
Ngoài cầu thang bỗng có tiếng xin tránh đường. Một giọng nữ mềm mà rõ vang lên: “Ta có thể xác nhận sổ ấy phải được nộp.” Lục Thanh quay lại. Thẩm Dao bước qua cửa, gấu áo dính bùn cầu Nhạn, hơi thở chưa đều. Nàng đã về tới cổng Hầu phủ và nhìn thấy bản công văn yêu cầu phủ phối hợp nếu Lưu Hương chống lệnh. Dấu giờ trên đó sớm hơn lúc nha môn nhận tin khách chết. Dao hiểu việc niêm quán đã được chuẩn bị từ trước nên lập tức quay lại theo đoàn đèn.
Mạnh Nương nhìn Dao như nhìn thêm một cánh cửa của quyền quý vừa mở vào phòng. “Tiểu thư muốn nộp tên của họ cho nha môn?” “Ta muốn nộp cuốn sổ trước khi có người nói nó chưa từng tồn tại.” Dao đáp. “Giữ lại lúc này sẽ cho họ cớ lục từng phòng, bắt từng người và gọi mọi dấu đỏ là do bà ngụy tạo sau án.” “Còn nộp đi sẽ cho họ địa chỉ của những người đã trốn.” “Cho nên không thể nộp như một cuốn sổ thường.” Dao nhìn sang Thanh. “Phải có người chịu trách nhiệm trên biên nhận và buộc họ chỉ mở theo từng mục liên quan.”
Thanh không đáp ngay. Dao đã nói đúng điều nàng sợ nhất: chứng cứ không vào hồ sơ có thể biến mất; chứng cứ vào sai tay có thể biến thành hung khí. Nàng nhìn trang sổ, rồi nhìn công văn trong tay viên thư lại. Dấu giờ được đóng trước lúc án khách chết lan khỏi Lưu Hương. Nghĩa là có người đã chờ một lý do để lấy sổ, hoặc ít nhất biết đêm nay nơi này sẽ bị mở. Chiếc chìa khóa trên thi thể không còn là vật mang tới sau một giao dịch ngẫu nhiên. Nó là phần của một cuộc thu hồi.
“Trước khi niêm, ta cần xác định trang người chết định tìm.” Thanh nói. Viên thư lại định gạt đi, nhưng Dao đặt tay lên hòm dây niêm. “Nếu ông thu mà không biết mục tiêu của chìa khóa, sáng mai ông sẽ phải giải thích vì sao đã trộn một cuốn sổ nhiều năm với hai án mới.” Lời nàng mềm, nhưng đủ để lặp lại trước công đường. Viên thư lại miễn cưỡng cho người ghi lời đứng sát bàn và ghi số từng trang được lật.
Mạnh Nương chỉ vào ba trang có mép sạch. Thanh dùng đầu một chiếc thước gỗ nâng góc giấy, không để tay mình che chữ. Trang thứ nhất có bảy dòng. Bốn người bị ghi chết trước ngày giao từ hai đến sáu hôm; ba dòng còn lại bỏ trống cột tên cũ. Cả bốn dòng có dấu đỏ. Thanh đối chiếu nét chữ và thấy ngày chết thuộc cùng bàn tay mực đen, nhưng dấu đỏ được thêm sau, vị trí không cố định. Điều đó phù hợp lời Mạnh Nương: người lập sổ biết trước cái chết trên giấy, còn bà chỉ đánh dấu khi gặp lại người sống.
Trang thứ hai có một hàng bị gạch bằng mực đen rồi viết lại tên hoa ở mép. Cạnh đó là một vệt cạo rất nhẹ, giống cách chữ trong kho án từng bị sửa. Thanh chưa kịp nhìn rõ thì người ghi lời đọc số trang tiếp theo. Mạnh Nương bỗng nói: “Cúc bảo ta kiểm trang này.” Bà chỉ vào dòng thứ năm. Ô tên cũ bị che bởi bóng gáy sổ. Thanh dịch đèn sang trái. Một chữ “Kỷ” hiện ra trước, nét móc cuối hơi run; sau đó là chữ “Hòa” viết ngay ngắn hơn. Ở mép ngoài có một ký hiệu nhỏ giống nửa chữ “Hầu”.
Thẩm Dao đứng bất động. Ngày chết trong dòng ấy chính là ngày Hầu phủ báo thị nữ treo cổ. Ngày đến được ghi sau đó hai hôm. Cuối hàng có một nét đỏ mảnh. Không ai trong phòng cần hỏi dấu đỏ có nghĩa gì nữa. Kỷ Hòa đã bị ghi chết trước khi được đưa tới nơi nhận, rồi Mạnh Nương từng xác nhận nàng vẫn sống sau cái chết ấy. Cuốn sổ không chỉ chạm vào Lưu Hương. Nó nối thẳng vụ tráo thi thể Hầu phủ với đường dây đã mang chìa khóa tới căn phòng này.
Viên thư lại đưa tay về phía sổ. Dao bước lên nửa bước, chắn giữa bàn và bàn tay ấy. Gương mặt nàng vẫn bình tĩnh, nhưng Thanh thấy đầu ngón tay nàng siết vào tay áo. “Kỷ Hòa còn sống.” Dao nói. “Và từ lúc tên nàng xuất hiện ở đây, bất cứ ai mở cuốn sổ này cũng có thể dùng chính sự sống của nàng để buộc tội nàng.” Nàng nhìn thẳng viên thư lại. “Nếu cần một cái tên đứng trước tên Kỷ Hòa trên biên nhận, hãy ghi tên ta trước.”
