Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 33 - Chương 33: Đèn Lưu Hương

Người đàn bà bán hương không chịu bước qua ngạch cửa nha môn. Bà đứng nép dưới mái hiên phía đông, chiếc đòn tre còn vắt trên vai, hai thúng hương liệu phủ kín bằng vải dầu. Khi nha sai hỏi tên, bà chỉ đặt xuống bậc đá một đoạn bấc đèn cháy dở cuốn trong giấy đỏ, rồi nói muốn gặp nữ ngỗ tác vừa khiến quan Trịnh rơi ấn.

Lục Thanh ra đến nơi khi bốn túi vật chứng trên công đường vừa được chuyển vào phòng khóa. Nàng không cúi nhặt ngay. Đầu bấc đen nhưng phần thân còn dính sáp hồng nhạt, có mùi quế pha xạ rất mỏng. Loại sáp ấy cháy sáng, ít khói, thường dùng gần rèm lụa và son phấn. Trên giấy đỏ có bảy lỗ kim xếp thành hình cánh hoa, ở giữa là hàng chữ nhỏ: “Đèn tắt trước canh hai. Cửa sau. Xin đưa người đọc được lời người chết. Không mang quan sai.” Dưới cùng là một tên hoa: Cúc.

Người bán hương nhìn hai nha sai sau lưng Thanh, lập tức lùi xuống một bậc. “Tôi chỉ chuyển vật. Người giao dặn, nếu có áo quan đi theo thì ném xuống cống.” Bà khai đã nhận đồ từ một cô gái gánh áo bẩn ở cầu Nhạn, chân trái đi khập khiễng, mặt trùm khăn. Cô gái còn dặn phải đưa qua Vĩnh An Hầu phủ trước; Thẩm tiểu thư xem xong mới sai bà mang đến nha môn.

Thanh lật mặt sau tờ giấy bằng đầu nhíp. Có thêm hai chữ viết bằng mực nhạt: “Tin được.” Nét bút mềm nhưng dứt, chữ cuối khép móc giống những mảnh ghi chú Thẩm Dao từng kẹp trong bản sao hồ sơ. Dao không thể rời phủ, nhưng nàng đã nhìn thấy lời cầu cứu này và dùng hai chữ ngắn nhất để mở một cánh cửa cho Thanh.

Thanh cho ghi lời người bán hương rồi thả bà đi, sau đó quay vào dặn chủ bạ sao riêng hình niêm của bốn túi vật chứng. Mỗi bản phải có ba người ký; một bản cất trong kho án, một bản giao viên giữ ấn, bản còn lại để Chu Hoài Sinh giữ. Người văn lại ký thay được chuyển khỏi gian chờ cũ, không ai biết phòng mới ngoài hai người cầm nửa chìa khóa. Đỗ Mạnh vẫn mang xích, nghe nàng nói sẽ đi Lưu Hương thì giật mạnh cổ tay.

“Cho tôi theo.”

“Anh đi chưa hết một con phố đã để máu nhỏ thành đường.” Thanh nhìn lớp băng đã thấm đỏ dưới tay áo hắn. “Ở đây. Nếu có lệnh Hình bộ đến, buộc họ đọc trước mặt chủ bạ, ghi giờ, ghi người, ghi từng vật họ đòi lấy. Không tranh bằng đao.”

Đỗ Mạnh nghiến răng nhưng không cãi. Chu Hoài Sinh đứng bên cửa, bàn tay già đặt trên hộp dụng cụ. Ông hỏi nàng định vào một mình sao. Thanh cất đoạn bấc và thư vào hai lớp giấy riêng, đáp rằng Lưu Hương không gọi quan phủ, họ chỉ gọi đúng nghề của nàng. Nếu quá canh ba nàng chưa về, khi ấy mới cho người tìm. Giữa hai thầy trò vẫn còn cái tên Lục Vãn như một lưỡi dao đặt ngang; lúc này họ chỉ có thể nói với nhau bằng việc cần làm.

Cửa hông phía tây Hầu phủ mở vừa đủ cho một người lách qua khi chuông đầu canh hai vừa dứt. Thẩm Dao bước ra trong áo choàng màu tro, không trâm vàng, không mang theo thị nữ. Nàng khép cửa bằng chính tay mình rồi giấu vào tay áo một chiếc then sắt mỏng. “Lối kho củi năm trước vẫn chưa bị xây kín. Cha tôi đổi người gác cổng lớn, nhưng không ai để mắt đến chốt cửa đã gỉ.”

Thanh nhìn vết xước mới trên ngón tay nàng. “Cô không nên ra.”

“Bức thư được gửi cho tôi trước. Nếu tôi không đi, Lưu Hương sẽ không mở cửa cho cô.” Dao nói, hơi thở gấp hơn thường ngày. “Tôi phải trở lại trước canh tư. Một lần thiếu người điểm đèn trong viện có thể che được. Lần thứ hai thì không.”

Thanh muốn nói đây là việc của mình, nhưng lời ấy không đúng. Dao đã lấy bản sao khỏi Hầu phủ, giữ lại cái tên Lưu Hương khỏi bị cạo mất, rồi bị nhốt trong chính ngôi nhà của mình. Bảo nàng đứng ngoài lúc này không phải bảo vệ, mà là dùng sự an toàn để tước mất lựa chọn. Thanh chỉ dặn Dao đi sát mình; nếu cửa sau có người chờ bắt, nàng phải quay về trước. Dao nhìn nàng một nhịp rồi nói rất khẽ: “Lục Thanh, nghề ngỗ tác không phải áo giáp.”

Hai người đi xuống phía nam thành bằng những ngõ ít đèn. Càng gần phố hương liệu, mùi quế, đinh hương và dầu hoa càng dày, át cả mùi nước cống dưới chân tường. Lưu Hương nằm cuối một dãy lầu cao, mặt tiền treo ba tầng đèn đỏ. Giờ này đáng lẽ tiếng đàn phải tràn ra tận phố, nhưng cửa chính đóng kín, rèm trên lầu không động. Chỉ còn hai ngọn đèn ở tầng dưới cháy yếu; ngọn giữa đã tắt, khói mảnh vẫn quấn quanh khung gỗ.

Dao dừng dưới mái nhà đối diện. “Đèn giữa mang tên Cúc. Các cô nương ở đây không treo bảng tên trước cửa. Mỗi người có một ngọn đèn và một mùi hương riêng. Mẹ tôi từng thuê người của Lưu Hương dạy đàn cho nữ quyến trong phủ, khi ấy tôi còn nhỏ.” Nàng nhìn ngọn đèn tối. “Ba ngọn tắt cùng lúc mới là đóng quán. Chỉ một ngọn tắt trước canh hai không phải lệ thường.”

Cửa sau thông ra hẻm bán hương, đúng như chữ lõm trên tấm thiếp son. Thanh không gõ mà đặt đoạn bấc vào khe giữa hai cánh cửa rồi lùi lại. Một lát sau, thanh gỗ bên trong nhấc lên nửa tấc. Một con mắt nhìn qua khe, dừng ở Dao trước rồi mới đến túi dụng cụ của Thanh. Giọng nữ hỏi hai lần: có quan sai không, có lệnh bắt người không. Dao đều đáp không. Cánh cửa mới mở vừa đủ cho họ lách vào.

Họ bị dẫn qua một hành lang bếp tối, nơi sáu cô gái đứng im cạnh những thùng nước đã múc đầy. Không ai mặc áo tiếp khách. Có người ôm bọc quần áo, có người giữ chặt thẻ gỗ trong tay, như thể chỉ cần tiếng đập cửa phía trước vang lên, cả căn nhà sẽ chạy theo những lối đã tập trước. Một cuộc lục soát đúng phép cũng đủ kéo tất cả tên thật, tên giả và những người đang trốn ra ánh sáng. Thanh hiểu vì sao nơi này thà gọi một ngỗ tác còn hơn gọi nha môn.

Người chờ họ ở cuối hành lang mặc áo tím sẫm, tóc vấn bằng trâm gỗ đen. Nàng khoảng ngoài ba mươi, đôi mắt sắc, trên môi còn màu son nhưng bàn tay hoàn toàn không đeo trang sức. Dao gọi nàng là Mạnh Nương. Người chủ quán nhìn chiếc áo choàng bụi của Dao rồi liếc sang Thanh. “Hai vị mang cái tên Hình bộ đến cửa tôi nhanh hơn tôi tưởng.”

“Cúc gửi thư cầu cứu.” Thanh đưa tờ giấy ra nhưng không giao hẳn. “Nàng ấy ở đâu?”

Mạnh Nương không nhận. “Cúc không được phép gửi thư ra ngoài.”

“Không được phép, hay không thể?”

Ánh mắt Mạnh Nương lạnh xuống. Từ gian trước vang lên ba tiếng đập cửa nặng nề. Các cô gái trong hành lang lập tức tắt thêm một ngọn đèn. Một giọng nam bên ngoài nói có tin trộm lẩn vào quán, yêu cầu mở cửa để tuần đêm kiểm tra. Thanh nghe tiếng giày dừng ngoài bậc: ít nhất hai người, đế đóng đinh ở gót, nặng hơn giày sai dịch tuần thành. Họ đập đúng lúc nàng và Dao vừa vào, nghĩa là bức thư bị theo dõi hoặc cửa Lưu Hương đã bị canh từ trước.

“Nếu họ là tuần đêm, họ sẽ gọi tên phường trưởng trước rồi mới đòi khám.” Thanh nói. “Người ngoài kia chưa gọi.”

“Vậy cô muốn tôi tin người trong nha môn hơn sao?”

“Không. Tôi muốn bà đừng mở cửa cho bất kỳ ai chỉ vì họ nói mình là quan.”

Mạnh Nương nhìn nàng lâu hơn. Tiếng đập cửa đổi thành tiếng kim loại cạy then. Nàng ra hiệu; hai cô gái kéo tủ gỗ chặn lối trước, những người còn lại dẫn Dao và Thanh lên cầu thang sau. Không có tiếng la hét, chỉ có sự thuần thục đáng sợ của những người đã nhiều lần chuẩn bị chạy khỏi một nơi được gọi là chỗ ở.

Phòng của Cúc nằm ở tầng hai, ngay sau ngọn đèn đã tắt. Trước cửa có một cô gái nhỏ tuổi quỳ ôm chậu nước, mặt trắng bệch. Nàng nói Cúc khóa cửa từ bên trong sau khi uống trà, đến lúc đèn tắt thì gọi không đáp. Mạnh Nương đã cho tháo bản lề nhưng chưa dám mời y nữ, càng không dám báo nha môn. “Cô ấy chỉ ngất,” Mạnh Nương nói, lần đầu giọng mất đi độ sắc. “Không có máu, không có thương tích. Hơi thở vốn yếu từ mấy hôm trước.”

Thanh bước vào. Mùi hương trong phòng quá đậm, nhưng dưới lớp quế và lan vẫn có vị trà nguội hơi chát. Cúc nằm nghiêng trên giường, áo ngoài còn nguyên, tóc xõa qua vai như người vừa mệt mà ngủ. Bàn tay phải khép gần ngực, móng tay nhuộm vàng nhạt. Trên bàn là chén trà vơi một nửa và một cây kim nhỏ dùng châm bấc đèn.

Dao đứng lại ngoài rèm. Thanh đặt hai ngón tay lên cổ tay Cúc rồi chuyển lên dưới hàm. Da còn hơi ấm vì lò than trong phòng, nhưng mạch đã lặng. Mi mắt không phản ứng với ánh đèn. Ở đầu ngón tay có một lớp bột mịn không thuộc màu nhuộm móng thông thường. Ngoài tầng dưới, thanh cửa bật lên một tiếng khô. Mạnh Nương quay phắt lại, nhưng Thanh nói trước: “Dời tất cả cô gái không có tên thật khỏi gian trước. Giữ nguyên chén trà, lò than, đèn và cửa sổ. Không ai chạm vào tay nàng ấy.”

“Cô định nghiệm người của tôi ngay tại đây?”

“Tôi định không để người chết bị viết thay lần nữa.” Thanh rút tờ thư khỏi lớp giấy bọc, đặt cạnh bàn tay khép của Cúc nhưng không cho hai thứ chạm nhau. “Bức thư này phải được giữ cùng căn phòng.”

Mạnh Nương nhìn Cúc, rồi nhìn hai chữ “Tin được” của Dao ở mặt sau. Sau cùng nàng tự tay kéo rèm kín, để lại một câu: “Cô có thời gian đến khi cánh cửa dưới kia vỡ.”

Thanh cúi thấp ngọn đèn. Trên ngón trỏ của Cúc có một chấm mực đen cùng màu với hàng chữ cầu cứu. Khớp ngón tay đã bắt đầu cứng; vệt mực nằm dưới lớp bột vàng, còn cây kim châm bấc lại sạch. Bức thư không phải lời nhắn vừa viết trong cơn hoảng loạn. Nó đã được chuẩn bị trước, giấu đi, rồi tìm đường ra ngoài khi Cúc biết ngọn đèn của mình sẽ tắt.

Dao khẽ hỏi: “Nàng ấy còn sống không?”

Thanh không trả lời bằng một lời an ủi. Nàng khép lại cổ áo cho người trên giường, động tác chậm và sạch như khi kết thúc một lần xem nghiệm. “Không,” Thanh nói. “Người gửi thư cầu cứu chúng ta đã chết.”