Chương 58 - Chương 58: Mật Hòm Lễ Bộ
Chương 58: Mật Hòm Lễ Bộ
Tiếng mõ canh hai vừa dứt, cửa Nội Lễ ty đã vang ba tiếng gõ đều. A Nhiễm đứng ngoài hiên, hai tay nâng một hộp trâm sơn đen, trên nắp buộc dải lụa vàng có đóng nửa dấu Vĩnh Ninh. Gió đêm làm tà áo nàng rung nhẹ, nhưng sắc mặt vẫn lạnh. Nàng không bước qua ngạch cửa cho đến khi Tạ Uyển tự tay đối giờ trên phiếu.
“Chiếc trâm cũ trong danh mục tiễn giá, giao Nội Lễ ty phụ kiểm trước giờ Dần.” A Nhiễm đọc đúng từng chữ. “Điện hạ dặn không qua tay người khác.”
Tạ Uyển nhìn nét son nơi mép phiếu. Dấu đóng rất ngay, chỉ có một chấm mực nhỏ ở chữ “giữ nguyên”, giống hệt chấm mực nàng đã để dưới câu về chén tĩnh trà. Chiêu Nghi không gửi thêm lời nào. Nàng cũng không cần gửi. Chén trà lạnh còn nằm trên nghi án, còn chiếc trâm đã đến đúng canh.
“Ta nhận.” Tạ Uyển ký tên, rồi đẩy bản thứ hai cho A Nhiễm. “Từ lúc này, vật thuộc đường đối lễ. Ngươi là người giao, phải theo đến khi người giữ kho ghi đã nhập.”
A Nhiễm ngẩng lên. “Ta biết.”
Giọng nàng vẫn cứng, song không còn câu hỏi Tạ Uyển có định bỏ giữa chừng hay không. Mạnh cô cô từ phòng sổ bước ra, khóa cửa sau lưng. Bà mang theo chiếc túi đựng ấn cũ của Nội Lễ ty, thứ bà đã dùng từ trước khi Tạ Uyển vào cung. Khi Tạ Uyển mở hộp trâm, Mạnh cô cô cũng tháo lớp lót trong túi. Một mảnh ngọc màu mật ong rơi vào lòng bàn tay bà, đường gãy cong như nửa vầng trăng.
Nửa còn lại nằm trong thân trâm. A Nhiễm dùng móng tay ấn vào chốt bạc, đoạn ngọc mỏng trượt ra khỏi cán. Hai mảnh đặt cạnh nhau, đường nứt khép kín đến mức chỉ còn một sợi tối chạy giữa hoa văn chim loan. Tạ Uyển không ghép hẳn. Ngọc ấn chỉ được hợp tại miệng hòm; nếu khóa có lẫy giữ, tháo ra sớm sẽ để lại vết xước.
Mạnh cô cô nhìn nàng. “Con vẫn còn một lần quay lại.”
“Nếu quay lại, sáng mai họ sẽ mở hòm mảnh bản đồ trước mặt ba ty.” Tạ Uyển bọc hai nửa ngọc riêng trong giấy mềm. “Công đạo thứ bảy bị khóa không phải để ngăn chúng ta đêm nay. Là để sau sáng mai, không ai còn đường hỏi nơi vật từng đi qua.”
Bà không nói thêm. Tạ Uyển lấy ba tờ phiếu trắng, ghi việc phụ kiểm trâm cũ tại gian chờ phía đông Tây khố. Một bản lưu Nội Lễ ty, một bản theo vật, bản cuối giao người giữ kho. Nàng còn kẹp vào tập giấy danh mục nghi vật ngày mai, đủ để mọi bước chân của họ đều có tên trong sổ. Họ không lẻn qua một cánh cửa không người biết. Họ đi vào bằng con đường mà sáng mai chính Lễ bộ phải thừa nhận đã cho đi.
Tây khố về đêm không tối hẳn. Hai ngọn đèn dầu treo dưới mái, ánh sáng vàng đục phủ lên tường gạch và tấm biển “tạm sửa nền” đặt chắn trước công đạo thứ bảy. Sau tấm biển có tiếng đục đá rất khẽ. Người ta thật sự đang làm việc trong đêm.
Viên thủ kho họ Cao kiểm phiếu lâu hơn cần thiết. Hắn nhận ra Tạ Uyển, cũng nhận ra A Nhiễm là người của Vĩnh Ninh. “Trâm tùy thân của điện hạ, sao không để sáng mai mang thẳng đến nghi án?”
“Vì sáng mai Khôn Ninh, Chiêm sự phủ và Lễ bộ cùng đối vật.” Tạ Uyển đáp. “Vật chưa nhập trước giờ Dần thì không được đặt chung danh mục. Nếu Cao chủ sự muốn bỏ chiếc trâm khỏi lễ tiễn giá, xin ghi rõ lý do.”
Hắn nhìn sang công đạo thứ bảy, rồi nhìn hộp trâm. “Nền đang sửa. Gian phía đông không tiện ở lâu.”
“Chúng ta chỉ đối quy cách, không qua công đạo.”
“Ta phải đứng cùng.”
“Đây là vật tùy thân của công chúa.” Tạ Uyển chỉ vào dòng cuối bản nghi chú. “Nam quan không được xem khi tháo chốt, kiểm kim và đối dấu trong thân trâm. Cao chủ sự có thể đứng ngoài bình phong, cửa không khép. Một khắc sau, ta giao lại hộp và phiếu.”
Quy tắc ấy không do nàng đặt ra. Nó nằm trong điều lệ kiểm trang sức của nữ quyến hoàng gia, cũ đến mức người Lễ bộ thường chỉ dùng khi muốn ngăn kẻ khác chạm vào vật quý. Cao chủ sự đọc lại, cuối cùng gọi người mang bình phong đến. Hắn đặt một đồng hồ cát nhỏ ngoài cửa.
“Một khắc.”
Tạ Uyển cúi đầu. “Đủ.”
Gian chờ phía đông có mùi gỗ ẩm và bụi vôi. Hòm chứa mảnh bản đồ nằm trên án giữa phòng, hai dải giấy niêm còn nguyên, dấu giáp lai không lệch. Tạ Uyển chỉ nhìn một lần rồi tránh sang bên. Động vào nó lúc này chẳng khác nào tự viết tội trạng lên tay mình.
Mạnh cô cô đi thẳng đến chiếc tủ thấp kê sát bức tường chung với công đạo thứ bảy. Trên tủ là ba khay đồng dùng trong lễ tế cũ, phủ bụi đều. Bà nhấc chiếc khay ở giữa, để lộ một lỗ tròn nhỏ trên mặt gỗ. “Năm ấy, Thục phi bảo ta nhớ chỗ này. Bà nói người giữ hòm thường chỉ nhìn cửa khóa, không nhìn nơi đặt lễ.”
Tạ Uyển đưa ngón tay vào lỗ tròn, ấn xuống. Một thanh gỗ bật nhẹ. Mặt lưng tủ tách khỏi tường đúng một đường mảnh. Phía sau không phải lối đi, chỉ là một hốc đá sâu bằng cánh tay, trong đó đặt chiếc hòm sắt đen nhỏ hơn nàng tưởng. Mặt hòm không có ổ khóa, chỉ có một hõm hình loan khuyết.
Ngoài cửa, cát bắt đầu rơi.
A Nhiễm đứng bên bình phong, mắt không rời bóng Cao chủ sự in trên nền. Tạ Uyển ghép hai nửa ngọc. Hoa văn chim loan liền lại, nhưng khi đặt vào hõm, ngọc chỉ chìm xuống một nửa. Nàng xoay sang trái, không động. Xoay sang phải, bên trong vang lên một tiếng cứng rồi im bặt.
“Không đúng,” Mạnh cô cô nói rất thấp. “Năm xưa Thục phi chỉ dặn hai nửa phải cùng về, không nói cách mở.”
Tiếng đục đá sau tường bỗng dừng. Có người nói: “Chuyển tấm nền này sang gian đông.”
Cao chủ sự lập tức quay về phía cửa. “Tạ chưởng lễ, việc sửa nền cần qua phòng.”
A Nhiễm đáp trước: “Trâm của điện hạ đang tháo chốt. Người ngoài bước vào lúc này, ai chịu tội nhìn vật ngự dụng chưa niêm?”
“Ta không nói vào. Chỉ cần các vị nhanh.”
Tạ Uyển nhìn hoa văn trên ngọc. Chim loan quay đầu về phía đuôi, trái với mọi đồ án nàng từng thấy trên nghi vật. Từ lần đầu nhìn chiếc trâm nứt, nàng đã cho rằng thợ khắc làm sai. Nhưng Thục phi không dùng chiếc ấn này để đóng ra ngoài. Bà dùng nó để mở một vật giấu khỏi người giữ ấn. Muốn hình in thuận, mặt ấn phải đặt ngược.
Nàng rút ngọc ra, lật mặt nhẵn lên trên, để đường khắc úp vào hõm. Lần này hai nửa không còn được tay nàng ép giữ. Chúng tách ra một sợi tóc.
“Mỗi người giữ một nửa,” Tạ Uyển nói.
Mạnh cô cô hiểu trước. Bà đặt ngón tay lên phần ngọc của mình. A Nhiễm rời bình phong một bước, giữ nửa còn lại. Tạ Uyển ấn chính giữa đường gãy. Hai người cùng xoay ngược chiều nhau. Trong hòm vang lên hai tiếng “cạch” liên tiếp, như hai chiếc then được rút từ hai phía.
Nắp hòm bật lên.
Bên trong chỉ có một cuốn sổ mỏng bọc lụa xám, một túi giấy niêm bằng sáp đen và ba thẻ gỗ buộc chung. Không vàng bạc, không mật chỉ, càng không có thứ gì khiến người ta vừa nhìn đã biết là chứng cứ. Chính sự giản lược ấy làm lòng Tạ Uyển lạnh xuống. Một hòm được mở bằng hai nửa ngọc, giấu sau tủ tế, chỉ để giữ những dòng chữ không được phép nằm trong sổ công.
Nàng nhấc cuốn sổ. Bìa không đề tên, mép giấy có những vệt nâu cũ. Trang đầu đóng dấu Lễ bộ của mười hai năm trước. Dưới dấu là bốn chữ nhỏ: “Phụ lục nghi vật.”
Ngoài cửa có tiếng chân nặng tiến lại. Cao chủ sự nói gấp: “Người sửa nền đã đến.”
A Nhiễm đóng nắp hộp trâm thật mạnh, cố ý để tiếng bạc va vào gỗ vang ra ngoài. “Chốt chưa khớp. Ai thúc, ngày mai tự bẩm với điện hạ.”
Tạ Uyển không có thời gian đọc. Nàng kẹp cuốn sổ vào giữa hai tập danh mục mang theo, buộc lại bằng dây xanh như cũ. Túi sáp đen và thẻ gỗ được giữ nguyên. Mạnh cô cô khép hòm, ba người đặt ngọc vào đúng vị trí ban đầu. Khi then khóa ăn lại, nửa ấn của Chiêu Nghi trở về thân trâm, nửa của Mạnh cô cô trở về lớp lót túi. Tạ Uyển đẩy tấm lưng tủ vào tường, đặt khay đồng đúng vòng bụi cũ. Không một vệt tay nằm ngoài chỗ vốn đã có.
Bình phong vừa được dời, hai thợ sửa nền đã khiêng một phiến đá đến ngạch cửa. Cao chủ sự nhìn hộp trâm, rồi nhìn đồng hồ cát chỉ còn một lớp mỏng.
“Đã đối xong?”
“Kim không cong, chốt bạc nguyên, dấu trong thân trâm phù hợp danh mục.” Tạ Uyển đưa phiếu. “Xin ghi đã nhập, chưa hợp kiểm.”
Hắn cầm bút. Hai chữ “chưa hợp” khiến hắn chần chừ, nhưng đó chính là tình trạng thật. Hắn ký, đóng dấu và nhận hộp trâm vào tủ khóa phía ngoài. Tạ Uyển không nhìn lại hốc tường. Khi họ rời Tây khố, tiếng đục đá tiếp tục vang lên sau lưng, từng nhát đều đặn như có người đang gõ lên một chiếc quan tài chưa đóng nắp.
Về đến Nội Lễ ty, A Nhiễm không vào phòng sổ. Nàng đứng dưới hiên, nhận bản phiếu đã ký rồi hỏi: “Chén trà còn phải chờ bao lâu?”
Tạ Uyển giữ tập danh mục trước ngực. Giữa những tờ giấy đúng phép là cuốn sổ có thể khiến cả Tạ gia lẫn Vĩnh Ninh cùng mất mạng. “Đến khi người giữ niêm thật sự dám nói đã hợp.”
A Nhiễm nhìn nàng một lúc, cuối cùng cúi chào. “Ta sẽ chuyển nguyên lời.”
Cửa khép lại. Mạnh cô cô kéo rèm phòng sổ, tự tay châm thêm một ngọn đèn. Tạ Uyển tháo dây xanh, đặt cuốn sổ lên bàn. Nàng chỉ định xem dấu đầu, xác nhận niên đại rồi giấu đi trước giờ Dần. Nhưng khi lật trang đầu tiên, tay nàng dừng lại.
Các mục được chia thành ba cột: ngày giao, vật giao, người nhận. Dòng đầu ghi đúng tháng Thục phi qua đời. Cột giữa là một hòm thuốc hương không nhập sổ chính. Cột cuối không viết chức danh, chỉ viết tên.
Từ Lan.
Tên của Hoàng hậu nằm trong mật sổ Lễ bộ, ở vị trí người nhận.
