Chương 26 - Chương 26: Nhà Lao Có Mùi Vôi
Mùi kim loại không nằm yên dưới lớp vôi. Nó theo hơi nóng từ nền đá dâng lên, mỏng đến mức người không quen chỉ thấy cay cổ, nhưng Lục Thanh đã ngửi quá nhiều căn phòng vừa có máu để lầm nó với mùi sắt gỉ. Nàng giơ tay chặn Đỗ Mạnh lại. Từ gian đầu, chiếc bát đất vừa lăn đến sát song cửa, miệng bát úp xuống lớp bột trắng. Một vệt kéo cong ngoằn ngoèo phía sau nó, như có người đã cố bò tới trước khi sức lực tắt hẳn.
Tiểu sai mở khóa bằng bàn tay run. Người trong gian giam nằm nghiêng cạnh chân tường, áo tù xám phủ đầy vôi ở lưng và vai. Một đầu gối co lại, bàn chân còn mắc trong đống rơm. Đỗ Mạnh định bước vào, Thanh giữ tay áo hắn. “Đừng giẫm lên vệt kéo. Đi sát mép tường.”
Nàng không mang thẻ nghề, cũng không mang dao nhỏ, thước tre hay hộp thuốc thử. Chiếc móc trống bên hông nhắc rõ rằng dù trước mắt là một người sắp chết, mọi động tác của nàng đều có thể bị gọi thành trái lệnh. Thanh đứng ngoài song, bảo tiểu sai nâng đèn thấp hơn. Ánh lửa lướt qua gương mặt tái xám, rồi dừng ở cổ tay trái lộ khỏi ống tay. Hai vòng lằn đỏ chạy song song quanh da, chỗ sát xương cổ tay còn có vết trầy mới.
“Đỗ Mạnh, dùng khăn sạch kê dưới gáy hắn. Không chạm vào cổ tay.” Thanh nói. “Tiểu sai, gọi hắn bằng tên trong sổ.”
“Đặng Châu.” Tiểu sai nuốt khan. “Đặng Châu, nghe thấy thì đáp.”
Mi mắt người tù động rất nhẹ. Hơi thở hắn ngắn, ngực không nâng đều. Đỗ Mạnh quỳ xuống theo lối Thanh chỉ, đưa hai ngón tay đến gần mũi rồi nhìn nàng. “Còn thở.”
“Tháo nút áo trên cùng. Đừng cho uống nước.” Thanh quan sát môi và cằm Đặng Châu. Không có bọt trắng, không có mùi nôn, cũng không có dấu sốt kéo dài. Vôi bám dày ở lưng áo nhưng dưới thân lại có một khoảng nền tối, chứng tỏ bột được rắc trước khi hắn bị kéo vào. Nếu rắc để khử bệnh sau khi phát hiện người ngã, vôi phải phủ lên cả khoảng trống quanh thân.
Đặng Châu đột ngột co người. Bàn tay phải quờ trên nền, móng tay cào qua lớp vôi phát ra tiếng khô rợn. Hắn không nhìn Đỗ Mạnh mà nhìn về cuối hành lang, nơi Tạ Văn Nhai đang bị nhốt. Môi hắn mở, chỉ thoát ra một âm khàn không thành chữ. Sau đó lồng ngực hạ xuống và không nâng lên nữa.
Đỗ Mạnh giữ nguyên tư thế một lúc rồi rút tay. Tiểu sai quay mặt đi. Thanh nhìn bóng lửa trong mắt người chết tắt dần, bàn tay vô thức siết lấy cổ tay mình. Nàng đã vào đây để cứu một người sắp bị chuyển lao, nhưng nhà lao đã đặt trước mặt nàng một người khác không kịp sống đến giờ giao nhận.
“Ghi giờ.” Thanh nói.
Tiểu sai sững ra. “Nhưng… cô đã bị đình chức.”
“Ta không bảo ngươi ghi lời ta.” Nàng nhìn Đỗ Mạnh. “Bộ khoái Đỗ phát hiện phạm nhân Đặng Châu ngừng thở giữa canh một, có tiểu sai và hai người gác dãy làm chứng. Ghi cả việc thân thể còn ấm, cổ tay có lằn buộc mới, nền đã rắc vôi trước khi người được đưa vào.”
Đỗ Mạnh hiểu ngay. Hắn lấy sổ tay nhỏ trong ngực áo, kê lên đầu gối. Những điều Thanh nhìn thấy không thể thành nghiệm trạng của nàng, nhưng có thể thành biên bản phát hiện của một bộ khoái còn chức trách. Nàng không chạm thi thể, không ký tên; dấu vết vẫn được buộc vào giờ và người chứng kiến.
Tiếng giày dồn từ phía cửa chính nhà lao tới. Tiểu sai vội kéo Thanh vào khoảng tối giữa kho vôi và bức tường bếp. Từ đó nàng nhìn qua khe ván thấy Bàng Phúc, cai lao, đi cùng hai người mang thẻ tạm của ngục phía bắc. Một người cầm tấm chăn dày, người kia mang dây buộc mới cuộn trên tay.
Bàng Phúc vừa thấy Đặng Châu đã quát: “Đóng cửa gian! Bệnh khí phát rồi. Rắc vôi, quấn xác, đưa ra lò ngoài thành trước canh ba.”
Đỗ Mạnh không đứng dậy. “Ông chưa hỏi hắn chết lúc nào.”
“Bệnh nhân trong lao chết thì còn chết lúc nào? Cuối canh một.” Bàng Phúc đáp quá nhanh. “Chiều hắn đã ho, đêm trở nặng. Ngục phía bắc không nhận xác bệnh.”
Thanh nhìn chiếc bát đất ngoài song. Trong bát chỉ có cháo nguội, thành bát không dính cặn thuốc. Nếu Đặng Châu đã phát bệnh từ chiều, ít nhất sổ cơm phải đổi phần, lính trực phải được báo, gian bên cạnh phải cách ly. Vậy mà Tạ Văn Nhai ở cuối dãy vẫn được phát cháo cùng nồi, hai người từ ngục phía bắc còn đứng sát cửa không che mặt.
Đỗ Mạnh nói: “Quan Trịnh vừa ra lệnh mọi thủ tục chuyển phạm phải theo sổ. Người chết trước giờ chuyển cũng phải ghi tình trạng, người chứng kiến và lý do không nghiệm. Ông muốn đốt ngay thì ký vào đây.”
Hắn xé một trang sạch, đọc chậm từng chữ vừa viết. Đến câu “cổ tay có dấu bị trói khi còn sống”, sắc mặt Bàng Phúc đổi hẳn. Ông ta nhìn hai người mang thẻ tạm, rồi nhìn tiểu sai. “Ngươi là bộ khoái, không phải ngỗ tác. Biết gì mà ghi dấu sống chết?”
“Ta chỉ ghi thứ mắt nhìn thấy.” Đỗ Mạnh đáp. “Nếu ông cho rằng hai vòng lằn kia là bệnh, mời ông viết vào bên dưới.”
Bàng Phúc không nhận bút. Ông ta ra hiệu hai người phía bắc khiêng xác. Đỗ Mạnh đứng chắn cửa gian, tay đặt lên chuôi đao nhưng không rút. “Đụng vào trước khi lập biên bản, ta sẽ ghi tên từng người. Sáng mai nếu nha môn hỏi vì sao xác bị đốt khi lệnh chuyển chưa tới canh ba, các ngươi tự trả lời.”
Không ai nhúc nhích. Câu đe dọa không nằm ở thanh đao mà ở chỗ bốn cái tên sẽ bị đặt cạnh một cái xác chưa nghiệm. Bàng Phúc có thể dùng chức cai lao ép Đỗ Mạnh tránh đường, nhưng không thể khiến những người đã nghe quên giờ chết. Cuối cùng ông ta giật lấy chìa khóa, tự tay khóa gian đầu, dán một mảnh giấy niêm tạm lên cửa.
“Chờ lệnh nha môn.” Ông ta nói. “Nhưng nếu bệnh khí lan, chính ngươi chịu.”
Bàng Phúc sai một người mang thẻ tạm đi báo Trịnh Bỉnh. Người còn lại bị giữ ở cửa chính. Khi tiếng chân xa dần, tiểu sai mới kéo Thanh ra. Họ không còn nhiều hơn nửa khắc.
Tạ Văn Nhai nằm sát vách gian cuối, chăn phủ đến ngực. Mặt ông hốc đi, nhưng khi tiểu sai gọi tên, ông vẫn mở mắt và đáp đúng ngày bị giam. Thanh bắt ông lặp lại tên mình, rồi hỏi ba câu về bữa cháo, giờ đổi gác và người vừa chết. Câu trả lời chậm nhưng không lẫn. Nàng bảo tiểu sai đổi bát nước, giữ lại phần cháo chưa ăn và ghi Tạ còn tỉnh vào sổ trực. Ít nhất trước khi đoàn áp giải chạm tới ông, họ đã có một mốc khác ngoài đầu canh một.
“Tên người chết là Đặng Châu?” Thanh hỏi.
Tạ Văn Nhai khẽ gật. “Hắn biết chữ. Cai lao dùng hắn chép sổ giao người hơn nửa năm. Mỗi lần có phạm nhân chuyển đi, hắn ngồi ở bàn ngoài cửa, đọc tên, ghi giờ, rồi điểm chỉ người không biết chữ.”
“Đêm nay hắn bị gọi ra lúc nào?”
“Sau tiếng mõ đầu canh.” Tạ thở khó, phải dừng một lúc. “Khi trở về, hai tay hắn bị buộc sau lưng. Hắn nói họ bắt hắn sửa một dòng. Hắn không chịu ký.”
Đỗ Mạnh cúi gần song cửa. “Ai ký?”
Tạ nhìn về phía hành lang như sợ vách đá cũng biết nghe. “Hắn chỉ kịp nói… văn lại ký thay. Người ở phòng sao lục.”
Ngoài sân vang lên tiếng cửa lớn mở. Người đưa tin đã ra khỏi lao. Đỗ Mạnh kéo Thanh về phía kho vôi, nhưng nàng dừng lại. “Sổ giao người ở đâu?”
“Bàn trực ngoài cửa.” Tiểu sai đáp. “Bàng cai lao giữ chìa ngăn kéo.”
“Không cần mở ngăn.” Đỗ Mạnh nói. “Sổ chuyển đêm nay phải đặt trên bàn để bên nhận ký.”
Họ men theo hành lang phụ đến phòng trực. Qua khe cửa, Bàng Phúc đang tranh cãi với người mang thẻ tạm còn lại. Trên bàn quả nhiên có một cuốn sổ mở, cạnh nghiên mực là tờ danh sách bốn phạm nhân Đỗ Mạnh đã chép trước đó. Khi Bàng Phúc quay ra sân, tiểu sai giả vờ mang thêm đèn, che cho Đỗ Mạnh lật nhanh một trang.
Tên Đặng Châu nằm ở dòng thứ hai. Cột giờ ghi “cuối canh một”, cột tình trạng ghi “bệnh nặng”, cột giao nhận đã có đủ tên người giao và người nhận. Nghĩa là trên giấy, hắn đã rời nhà lao trước khi chết trong gian đầu. Chữ ký bên người giao không phải nét chắc, vuông của Đặng Châu trên những trang cũ. Nó run ở nét móc cuối, mực tụ thành một chấm đen như người cầm bút đã dừng quá lâu.
Đỗ Mạnh chép nguyên dòng vào sổ tay, rồi chỉ xuống dòng kế tiếp.
Tên Tạ Văn Nhai đã được viết sẵn. Giờ chuyển còn bỏ trống, nhưng ở cột tình trạng, hai chữ “bệnh nặng” đã khô mực. Dưới cùng là tên người ký thay: Cao Dụ, văn lại phòng sao lục của nha môn.
Thanh nhìn hai dòng nối nhau. Đặng Châu không chết vì tình cờ phát bệnh trong đêm. Hắn chết sau khi từ chối biến một người còn trong lao thành người đã được giao đi. Và trong cuốn sổ đang mở, cái chết kế tiếp đã được viết trước khi xảy ra.
