Chương 25 - Chương 25: Thanh Bị Đình Chức
Thẻ nghề nằm trên lòng bàn tay Lục Thanh, lạnh hơn cả lúc đeo bên hông. Người sai dịch giữ hộp gỗ đã đưa tay ra, nhưng nàng vẫn không buông. “Biên nhận,” Thanh nhắc lại. “Ghi giờ thu thẻ, số lệnh, người ký và lời cảnh báo về Tạ Văn Nhai.”
Sai dịch cầm lệnh cau mặt. “Lệnh chỉ bảo thu thẻ, không bảo chúng tôi nghe cô lập điều kiện.”
“Thu vật có số hiệu mà không lập biên nhận, ngày mai mất thẻ các ngươi sẽ nói ai giữ?” Thanh hỏi. Giọng nàng không lớn, nhưng chủ cửa hàng giấy và hai người làm thuê đã đứng sau rèm. Đầu ngõ cũng có người chậm bước để nghe. “Ta không đặt điều kiện. Ta yêu cầu các ngươi làm đúng thủ tục của nha môn.”
Người cầm hộp nhìn đồng bạn. Cưỡng lấy thẻ trước những người đã nghe rõ sẽ biến chuyện đình chức thành chuyện nha môn thu vật không biên. Cuối cùng hắn rút một tờ giấy, kê lên nắp hộp. Thanh đọc từng dòng khi ngòi bút chạy: giờ Mùi ba khắc, thẻ nghề số mười bảy, thu theo lệnh Trịnh Bỉnh, người thi hành là Phạm Hữu và Lý Túc. Đến dòng cuối, Phạm Hữu dừng bút.
“Không có mục nào ghi về phạm nhân.”
“Vậy ghi vào phần sự việc kèm theo.” Thanh đáp. “Trước khi giao thẻ, Lục Thanh đã báo Tạ Văn Nhai thể trạng yếu, có nguy cơ chết trên đường chuyển lao canh ba. Hai người đã nghe.”
Lý Túc bật cười khô. “Cô chưa nhìn thấy hắn hôm nay, dựa vào đâu nói thể trạng yếu?”
“Ba ngày trước hắn đi ba bước đã phải vịn tường. Sổ thuốc và sổ cơm đều có người ghi.” Thanh nhìn đầu bút đang đọng mực. “Các ngươi có thể không tin, nhưng không thể nói chưa được báo. Không ghi cũng được; chủ quán và người ngoài ngõ sẽ làm chứng các ngươi từ chối.”
Phạm Hữu nghiến răng, viết thêm một dòng ngắn. Hắn cố dùng chữ “tự xưng”, nhưng Thanh bắt hắn ghi rõ thời điểm cảnh báo. Nàng chờ mực se, yêu cầu xé biên nhận làm hai bản, rồi mới đặt thẻ nghề vào hộp. Tiếng gỗ chạm kim loại rất nhẹ. Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, nàng nghe rõ hơn cả tiếng bánh xe Hầu phủ vừa khuất ở đầu phố.
Nắp hộp khép lại. Từ giờ, bất cứ thi thể nào đặt trước mặt nàng cũng là thứ nàng không được quyền chạm vào. Nàng đã quen bị tránh đường vì đôi tay chạm người chết; chưa từng nghĩ có ngày chính đôi tay ấy bị cấm vì đã đọc quá đúng dấu vết.
Đỗ Mạnh dịch nửa bước, che hộp dụng cụ ở phía sau chân. Lý Túc nhìn thấy động tác ấy. “Lệnh cấm khám nghiệm. Dụng cụ cũng phải niêm.”
“Dụng cụ do nàng tự mua, không ghi trong kho nha môn.” Đỗ Mạnh nói. “Muốn thu thì mang thêm lệnh kê tài vật.”
“Ngươi định cãi lệnh cùng cô ta?”
“Ta chỉ sợ mai kia thiếu một con dao nhỏ, quan Trịnh lại bắt ta đền.” Đỗ Mạnh nhếch miệng, giọng thô như thường ngày. Hắn cố làm cho chuyện này giống một cuộc đôi co về tiền bạc, không phải bảo vệ bốn tờ sao nằm dưới đáy hộp. Phạm Hữu không muốn kéo dài giữa phố, bèn ra hiệu đưa Thanh về nha môn để niêm chỗ làm việc.
Trong sân công đường, tin nữ ngỗ tác bị đình chức đi nhanh hơn bước chân họ. Mấy văn lại bê sổ né sang hai bên. Cửa phòng nghiệm của Thanh đã dán sẵn hai dải giấy niêm. Hồ còn ướt, nhưng ấn đỏ đã đóng từ trước; một góc dấu nhòe vì giấy chưa khô. Không ai vừa nhận lệnh mới chuẩn bị được cả giấy, hồ lẫn ấn nhanh như thế.
Trịnh Bỉnh đứng dưới hiên, tay áo sạch, sắc mặt không có vẻ tức giận. “Lục Thanh, cô tự tiện tra kho án, kích động lời khai và kết giao với người trong Hầu phủ để lấy giấy tờ. Đình chức là để xét, chưa phải định tội. Biết điều thì về nhà chờ gọi.”
Thanh nhìn ông ta. “Lệnh đình chức viết trước khi ta gặp Thẩm Dao. Tội lấy giấy Hầu phủ được ghi sau hay trước?”
Mắt Trịnh Bỉnh thoáng dừng ở hộp dụng cụ của Đỗ Mạnh. Ông ta chưa chắc bản sao ở đó; nếu chắc, người thu thẻ đã mang lệnh khám. Thanh không quay đầu. Sự bình thản là lớp khóa duy nhất họ còn có.
“Cô đang bị xét vì nhiều việc, không phải một việc.” Trịnh Bỉnh đáp. “Từ giờ không được bước qua cửa kho án, nhà lao hay nơi đặt thi thể. Nếu vi phạm, không còn là đình chức.”
“Vậy xin quan Trịnh ký xác nhận đã nhận cảnh báo về việc chuyển Tạ Văn Nhai.”
“Việc nhà lao không do ngỗ tác đã mất thẻ xen vào.”
“Ông ấy chưa mất tên khỏi sổ phạm.” Thanh nói. “Chỉ cần còn tên, lúc giao người phải có người kiểm tình trạng. Nếu ông ta chết giữa hai ngục, bên giao và bên nhận đều phải ghi rõ chết trước hay sau giờ đóng cửa. Ta chỉ nhắc quan đừng để một cái chết nữa không có giờ.”
Không khí dưới hiên cứng lại. Trịnh Bỉnh không ký, nhưng cũng không dám công khai nói không cần ghi giờ chết. Ông ta quay sang cai lao, ra lệnh mọi thủ tục chuyển phạm phải theo sổ, rồi phất tay đuổi Thanh. Câu nói ấy không cứu được Tạ Văn Nhai. Nó chỉ buộc ít nhất một người trong nhà lao phải mở sổ khi đoàn áp giải đến. Với Thanh, lúc này một dòng mực có nhân chứng còn hơn một lời bảo đảm của quan.
Nàng rời nha môn bằng cửa chính. Chiếc móc bên hông trống, vạt áo nhẹ hơn nhưng mỗi bước lại nặng. Người bán trà nhìn hai bàn tay nàng, hỏi nhỏ từ nay có còn làm ngỗ tác. Thanh không đáp. Nàng rửa đầu ngón tay trong một bát nước sạch; nước vẫn trong, cảm giác sạch sẽ bỗng vô dụng.
Đỗ Mạnh phải ở lại; nếu lập tức theo nàng, con đường cuối cùng vào nhà lao cũng đứt. Thanh trở về phòng nhỏ cạnh y quán, lấy giấy dựng lại bằng trí nhớ giờ đổi gác, cửa chuyển cơm, kho vôi và lối đưa người chết ra khỏi dãy giam. Mỗi nét đều dựa vào những lần nàng từng vào lao, từng đếm bước trong hành lang thiếu sáng.
Đến cuối giờ Thân, trên giấy có ba đường vào và chỉ một đường không qua cổng có lính trực. Đó là cửa kho vôi phía sau bếp lao, thường mở khi nhận vôi hoặc chuyển thùng nước bẩn. Cửa ấy có khóa hai mặt. Người bên ngoài không thể tự vào, người bên trong cũng không thể mở nếu không có chìa của cai phụ. Thanh gạch dưới chữ “cai phụ”, rồi dừng bút. Không có Đỗ Mạnh, sơ đồ chỉ là một bức tường được vẽ đẹp hơn.
Nàng nghĩ đến Thẩm Dao. Giờ này, phòng Dao có lẽ đã bị lục, tro hương trở thành lời buộc tội không cần công đường. Thanh đã bảo Dao giữ mình sống, nhưng không biết cánh cửa kia đã khóa hay chưa. Nàng chạm cổ tay mình rồi bỏ xuống. Lo lắng không phải chứng cứ; nàng không thể dùng nó để xông vào Hầu phủ, cũng không thể vì nó mà bỏ quên người sắp bị chuyển lao.
Trời tối hẳn, ba tiếng gõ vang lên ở cửa sổ, ngừng một nhịp rồi thêm một tiếng. Đỗ Mạnh vào từ lối sau, đặt lên bàn bản chép danh sách áp giải. Bốn người nhưng chỉ hai tên thuộc nha môn; hai người còn lại mang thẻ tạm của ngục phía bắc, số thẻ viết cùng một nét tay. Xe chuyển phạm đã vào sân, trong xe có dây buộc mới và tấm chăn dày dù đêm không lạnh.
“Ta đã khiến cai lao ghi Tạ Văn Nhai còn sống lúc đầu canh một,” Đỗ Mạnh nói. “Tiểu sai mang cháo vào, gọi hắn đáp, hai lính gác cùng nghe. Nhưng cai phụ vừa nhận lệnh rắc thêm vôi ở dãy giam phía đông. Họ nói phòng ẩm.”
“Vôi mới không dùng để chống ẩm trong một đêm.” Thanh đáp. “Nó dùng để át mùi, hút nước, hoặc khiến người khác không muốn đứng lâu.”
Đỗ Mạnh nhìn tấm sơ đồ trên bàn. “Cô vẫn nhớ cửa kho vôi?”
“Khóa hai mặt.”
“Cai phụ nợ ta một món nợ bài bạc. Hắn không dám cho cô vào, nhưng dám để quên chìa trong bếp đúng nửa khắc. Tiểu sai sẽ mở chốt trong. Chúng ta chỉ có khoảng thời gian đổi gác.”
Thanh gấp sơ đồ, không mang hộp dụng cụ. Bốn tờ sao đã được Đỗ Mạnh giấu ở nhà người chị họ tại phường Nam; nếu cả hai bị bắt, giấy vẫn không nằm cùng họ. Nàng chỉ lấy vải sạch, sợi chỉ và cây đèn nhỏ. Chúng không khiến việc sắp làm hợp phép, chỉ giúp nàng không bước vào bóng tối bằng tay không.
Họ đi vòng qua chợ cá đã đóng, men theo bức tường sau nhà lao. Cửa kho vôi thấp đến mức Đỗ Mạnh phải cúi đầu. Chìa khóa nằm dưới chiếc rá úp cạnh bếp đúng như lời hắn nói, nhưng trên mặt khóa có một vệt bột trắng mới. Có người vừa mở cửa không lâu. Đỗ Mạnh tra chìa, chờ tiếng mõ đổi gác từ tháp phía nam rồi xoay một vòng. Phía trong, tiểu sai kéo chốt rất chậm để sắt không kêu.
Khe cửa mở ra. Mùi vôi sống tràn tới, cay khô nơi cuống họng. Thanh chưa bước vào đã biết lượng vôi phía trong nhiều hơn một kho dùng thường ngày. Dưới nền có dấu kéo của một vật nặng chạy về phía dãy giam, còn trên mép cửa bám một sợi vải xám giống loại áo phạm nhân.
Đỗ Mạnh nâng đèn, nói rất khẽ: “Tạ Văn Nhai ở gian cuối.”
Thanh cúi người qua cửa. Từ sâu trong hành lang, một tiếng ho đứt quãng vừa vang lên thì im bặt. Cùng lúc đó, ở gian giam đầu tiên có tiếng thứ gì rơi xuống nền đá. Nàng ngửi thấy dưới mùi vôi một mùi kim loại nhạt, không thuộc về kho. Có người đã rắc vôi không phải sau một cái chết, mà trước nó.
