Chương 21 - Chương 21: Loa Phường Lúc Ba Giờ
Tiếng ho chỉ kéo dài chưa đầy nửa giây.
An Chi giơ tay trước khi Tưởng Nghiên chạm vào thanh lọc nhiễu. “Đừng làm sạch quá mức. Giữ một bản nguyên, một bản tách giọng loa và một bản chỉ giảm tiếng động cơ.” Cô vẫn ngồi cạnh bàn sưởi của Bơ. Mặt nạ ôxy mờ đi rồi trong lại theo từng nhịp thở, đều hơn lúc trước nhưng chưa đủ để cô rời mắt lâu. Trên máy cách ly, đoạn âm thanh sáu giây đã dừng đúng sau tiếng ho bị nén.
Tưởng Nghiên tạo ba bản làm việc từ bản sao kiểm tra, ghi mã kiểm tra cho từng bản rồi mới bắt đầu xử lý. Khi hạ dải thấp của động cơ, tiếng ho nổi lên rõ hơn một chút: một luồng thở ngắn, khựng ở cuối, sau đó là tiếng hít vào rất mảnh. An Chi nghe ba lần, lần cuối không đeo tai nghe mà để âm thanh phát qua loa nhỏ của máy cách ly.
“Có co thắt đường thở,” cô nói. “Nhưng không thể nhận dạng người, cũng chưa thể khẳng định tuổi. Người đó cố nén tiếng ho, có thể vì sợ bị nghe thấy, cũng có thể chỉ vì đang đứng gần thiết bị phát.” Cô ghi nhận xét vào bản đánh giá y tế, tách riêng khỏi hồ sơ điều tra. “Đừng dùng nó như bằng chứng Diệp Vân đang ở đó.”
Trạch Hành nhìn đồng hồ trên góc màn hình. Yêu cầu xác minh hành chính đã được chuyển xuống đơn vị địa bàn bốn phút trước. Anh vẫn ngồi trước biểu mẫu bàn giao, con trỏ dừng ở mục quyền truy cập thiết bị ngoại vi. Nếu Bảo Cường kiểm tra, mọi thứ phải giống như anh đang chấp hành lệnh, không phải điều phối một cuộc tìm kiếm ngoài tuyến bị giám sát.
Phó Nhiên nhận phản hồi đầu tiên từ bộ phận thông tin cơ sở. Khu tái định cư phía đông có ba cụm loa, ký hiệu A, B và C. Cả ba dùng chung ba nốt chuông mở đầu, vì vậy mã âm thanh chỉ xác định được khu vực, không xác định được cột loa. Lịch phát đêm không có thông báo nào lúc 03:07. Nhật ký trung tâm cũng không ghi lệnh phát thủ công.
“Không có lệnh trung tâm không có nghĩa loa không phát,” Tưởng Nghiên nói. Cô mở phần đầu tệp chẩn đoán, nơi lệnh xóa chưa kịp ghi đè hết các thông số kỹ thuật. Dữ liệu định danh điểm cuối đã bị cắt, nhưng thời gian khứ hồi còn lại: bốn trăm sáu mươi tám mili giây. “Đây là thời gian từ lúc thiết bị gửi gói kiểm tra đến lúc micro hồi tiếp trả âm thanh về.”
Hoàng Sơn ngồi cách màn hình hai ghế, hai tay đặt trên đầu gối. “Cụm A và B đã thay sang đường quang. Cụm C còn đi qua bộ chuyển đổi đồng cũ ở trạm bơm.” Anh nói xong liền nhìn sang camera ở góc phòng, như thể vừa nhận ra mình đã cung cấp quá nhiều. “Ít nhất là theo thiết kế trước đợt nâng cấp.”
Tưởng Nghiên không dùng lời anh làm kết luận. Cô yêu cầu Phó Nhiên xin bảng hiệu chuẩn gần nhất từ đơn vị bảo trì, đồng thời mở bản thiết kế cơ sở vật chất đã được lưu ngoại tuyến. Bảng hiệu chuẩn sáu tháng trước cho thấy cụm A trả âm trong khoảng tám mươi đến chín mươi mili giây, cụm B dưới một trăm hai mươi mili giây. Chỉ cụm C dao động từ bốn trăm bốn mươi đến bốn trăm chín mươi mili giây vì tín hiệu phải qua tủ chuyển tiếp ở trạm bơm thoát nước số hai.
Trạch Hành gõ một dòng vào biểu mẫu bàn giao rồi mới nói: “Gửi đơn vị địa bàn kiểm tra cụm C với lý do loa phát sai lịch và khả năng cản lối xe cứu hộ. Không yêu cầu tìm người mất tích. Không nhắc T4-KT-07.” Anh dừng lại, nhìn An Chi. “Còn tiếng ho?”
“Micro chẩn đoán của cụm đó thu dải giọng nói rõ trong bán kính không quá mười lăm mét nếu không có vật chắn,” An Chi đáp. “Xa hơn vẫn có thể nghe, nhưng âm phụ âm và nhịp hít vào sẽ mất trước. Người ho nhiều khả năng ở gần tủ loa hoặc trong một không gian hở nối với nó. Không đủ để nói ở trong trạm bơm.”
Bơ cựa nhẹ dưới khăn giữ ấm. An Chi đặt hai ngón tay lên lồng ngực nó, đếm nhịp thêm một phút. Con mèo chưa tỉnh, nhưng phản xạ đã trở lại. Cảm giác nhẹ nhõm chỉ lóe lên rồi biến mất khi đoạn âm thanh trên máy lại hiện trước mắt cô. Một tiếng ho nhỏ đến mức gần như không tồn tại đã trở thành dấu vết duy nhất của Diệp Vân sau cầu phía đông. Cô không cho phép mình biến hy vọng thành nhận dạng.
Đơn vị địa bàn tiếp cận khu tái định cư bằng xe công vụ của phường, đi cùng một nhân viên quản lý hạ tầng. Báo cáo được truyền qua đường thoại riêng của Phó Nhiên. Cụm A trên nóc nhà sinh hoạt cộng đồng còn niêm chì. Cụm B ở chợ tạm không có dấu mở tủ. Cụm C nằm trên một cột thấp phía sau trạm bơm số hai, cạnh lối dịch vụ dẫn xuống tuyến ven sông. Khóa điện tử không báo lỗi, nhưng ổ khóa cơ có vết xước mới.
“Chụp trước khi mở,” Anh Hòa nhắc. Anh đã xuống phòng kỹ thuật tầng bốn cùng tổ giám định, nhưng vẫn giữ một đường liên lạc riêng với hiện trường mới. “Chụp toàn cảnh, mặt khóa, nền đất và vị trí barrier. Không chạm tay trần.”
Nhân viên hạ tầng dùng chìa quản lý mở tủ. Bên trong, công tắc chế độ bảo trì đang ở vị trí thủ công. Đồng hồ cơ phụ cho thấy nguồn từng được kích hoạt từ 03:05 đến 03:09. Không có phiếu công việc tương ứng. Một sợi cáp mảnh màu xám được cắm vào cổng chẩn đoán, đi xuống ống kỹ thuật rồi mất sau bức tường tôn của nhà điều hành cũ.
Tưởng Nghiên yêu cầu họ chưa rút cáp. Cô đối chiếu sơ đồ: cổng đó vốn chỉ dùng khi kỹ thuật viên đứng tại chỗ kiểm tra độ trễ. Không có chức năng phát thông báo từ xa nếu thiếu bộ chuyển tiếp bên ngoài. Người đã dùng cụm loa lúc 03:07 phải có thiết bị ở gần, hoặc phải kéo một đường tạm tới nơi khác.
Phó Nhiên gửi về một đoạn ghi âm hiện trường. Nhân viên địa bàn đứng đúng vị trí micro chẩn đoán, gõ nhẹ vào tấm tôn lỏng ở mái nhà điều hành. Gió từ sông đẩy tấm tôn rung lên, tạo một tiếng rền mỏng giống âm thanh trong tệp. Sau đó máy phát dự phòng của trạm bơm được khởi động. Động cơ ba xi-lanh nổ hụt theo nhịp dài-ngắn-dài, trùng với chuỗi xung thấp mà Tưởng Nghiên đã tách khỏi bản ghi lúc 03:07.
Không ai gọi đó là trùng khớp tuyệt đối. Tưởng Nghiên đặt hai phổ âm cạnh nhau, đánh dấu những dải gần nhau và những điểm khác do khoảng cách micro. Kết quả đủ mạnh để ưu tiên trạm bơm số hai, nhưng chưa đủ chứng minh chiếc xe bạc từng dừng ở đó. Trạch Hành yêu cầu giữ nguyên cách diễn đạt trong biên bản: phù hợp về nguồn âm, cần xác minh vật lý.
Ngoài hiện trường, barrier chắn lối dịch vụ bị kéo lệch khỏi dấu bụi cũ. Trên nền bùn sát tường có hai vệt bánh xe còn sắc cạnh, một vệt rộng và một vệt hẹp hơn, nhưng mưa cùng xe bảo trì có thể làm sai dấu. Đơn vị địa bàn không đoán loại xe. Họ chỉ chụp tỷ lệ, che lối ra ven sông và chờ tổ kỹ thuật mở nhà điều hành cũ.
Trạch Hành nhận một cuộc gọi nội bộ đúng lúc đó. Bảo Cường không trực tiếp lên tiếng; thư ký của ông hỏi vì sao biểu mẫu bàn giao chưa hoàn tất. Trạch Hành trả lời rằng hệ thống đang khóa một mục xác nhận thiết bị ngoại vi và anh đã gửi yêu cầu hỗ trợ theo đúng quy trình. Giọng anh đều, không có một từ thừa. Sau khi cuộc gọi kết thúc, anh mới bảo Phó Nhiên tiếp tục.
Cửa nhà điều hành được mở bằng chìa của đơn vị hạ tầng. Bên trong không có người. Gian chính chỉ còn tủ relay cũ, mùi dầu máy và một lớp bụi bị giẫm thành đường hẹp. Sợi cáp xám từ tủ loa chạy qua một lỗ mới khoan tới phòng chứa vật tư phía sau. Ở đó, nó nối với một hộp chuyển tiếp nhỏ đặt dưới ghế gấp, cùng một bộ phát không dây dùng pin dự phòng. Thiết bị không mang số tài sản, nhưng cách lắp đặt giống một điểm trung gian hơn là nơi điều khiển lâu dài.
An Chi nghe báo cáo mà bàn tay vẫn đặt trên lưng Bơ. Không có Diệp Vân. Không có dấu hiệu cho thấy em còn ở trạm bơm. Cô ép mình nhìn vào điều họ thật sự có: một nơi đã được dùng để đưa âm thanh và dữ liệu vào mạng cảnh báo công cộng; một khoảng thời gian bốn phút; một người ho trong phạm vi thu của micro; một lối xe đi thẳng xuống ven sông.
Tổ địa bàn phát hiện một điện thoại phổ thông được dán sau mặt trong của tủ vật tư. Màn hình tắt, máy cắm sạc từ bộ pin, không có tên người dùng và không hiển thị cuộc gọi gần đây ở màn hình khóa. Tưởng Nghiên yêu cầu không mở khóa, không tháo SIM, chỉ chụp vị trí và đặt thiết bị vào túi chắn sóng sau khi xác nhận trạng thái nguồn.
Người kỹ thuật vừa đưa thước tỷ lệ vào khung hình thì điện thoại rung.
Màn hình sáng lên, hiện một tin nhắn mới từ số không lưu. Không ai chạm vào máy. Dòng chữ không dấu nằm giữa nền xám, ngắn đến mức Phó Nhiên đọc được ngay qua camera hiện trường:
DUNG TIN MAI NHA XANH.
