Chương 20 - Chương 20: Phòng Kỹ Thuật Tầng Bốn
“Đừng chạm vào bàn phím.” Tưởng Nghiên nói ngay khi Trạch Hành đưa tay về phía máy. Cô chặn giữa anh và con trỏ đang nhấp nháy. Dòng giám sát từ T4-KT-07 vẫn nhận dữ liệu đều đặn, mỗi ba giây một gói nhỏ, đủ để biết thẻ của anh vừa quẹt ở đâu, máy nào vừa đăng nhập và cửa sổ nào đang được mở.
Trạch Hành rút tay lại. “Nó chỉ xem hay có thể điều khiển?” Tưởng Nghiên phóng lớn cấu trúc phiên, đối chiếu với bản chụp ngoại tuyến trước khi quyền của họ bị khóa. “Hiện tại là thu thập thụ động. Nhưng quyền gốc cho phép đẩy lệnh xuống máy anh. Nếu tôi truy ngược bằng tuyến chính, bên kia sẽ thấy ngay.”
An Chi vẫn ngồi bên bàn sưởi của Bơ. Mặt nạ ôxy phủ gần hết mõm con mèo, hơi nước mỏng hiện rồi tan theo từng nhịp thở. Cô không rời tay khỏi lồng ngực nó, nhưng mắt theo dõi sơ đồ trên màn hình. Phòng kỹ thuật tầng bốn ở cùng tòa nhà, sau hai lớp cửa kiểm soát và một hành lang được ghi là tạm ngừng sử dụng vì thay hệ thống làm mát.
Hoàng Sơn ngẩng lên quá nhanh. “T4-KT-07 không nên còn nối mạng. Sau khi người dùng nghỉ việc, cổng của nó phải bị khóa ở tủ phân phối.” Tưởng Nghiên mở danh mục tài sản đã lưu. Lệnh đóng cổng được ký mười ba tháng trước, nhưng không có bản nghiệm thu cuối cùng. Sơn thừa nhận một đường quản trị cũ vẫn đi qua tủ cảnh báo công cộng, vốn dùng để kiểm tra đồng bộ khi mạng chính bị mất.
Tưởng Nghiên kiểm tra lời anh ta bằng bản thiết kế cơ sở vật chất và bảng ánh xạ cổng cô từng chụp trong đợt kiểm kê. Cả hai cùng xác nhận T4-KT-07 nằm sau một bộ chuyển mạch phụ, tách khỏi cụm tổng đài nhưng vẫn có thể ra ngoài qua tuyến bảo trì. Cấu trúc Sơn mô tả là thật; người đang lợi dụng nó vẫn chưa rõ.
Điện thoại ngoại tuyến của Phó Nhiên rung. Yêu cầu bảo vệ khẩn cấp cho Diệp Vân đã được tiếp nhận nhưng chưa có quyết định; người mẹ đang được chuyển tới nơi tạm lánh, còn chiếc xe bạc vẫn mất dấu sau cầu phía đông. Không có camera mới, cũng chưa có báo cáo cấp cứu trùng với một bé gái lên cơn hen. An Chi ghi giờ vào góc bản đánh giá. “Chưa có báo cáo không có nghĩa là em ấy an toàn. Giữ yêu cầu y tế mở.”
Trạch Hành không ra thêm lệnh truy tìm. Cảnh cáo của Bảo Cường đã biến mọi thao tác của anh thành dữ liệu cho người ngồi sau T4-KT-07. Anh ở lại phòng, tiếp tục hoàn tất biểu mẫu bàn giao đúng lệnh. Tưởng Nghiên và Anh Hòa đi bằng thang bộ phụ với lý do kiểm tra nguồn dự phòng, mang theo máy ảnh niêm phong, túi chống tĩnh điện và bộ cô lập mạng. Hoàng Sơn bị giữ lại để tránh đưa một người chưa rõ vai trò tới thẳng nơi lưu dấu vết.
Trước khi đi, Tưởng Nghiên tạo một tài liệu rỗng có tên gần giống mẫu bàn giao VY-0017 nhưng không chứa dữ liệu thật. Cô chuyển nó sang máy Trạch Hành bằng thiết bị đã kiểm tra. “Khi tôi nhắn, anh mở file. Nếu phiên kia bám nội dung chứ không chỉ vị trí, lưu lượng sẽ đổi.” Cô dặn nếu máy nhận lệnh xóa, anh chỉ rút cáp mạng, không tắt nguồn.
Hành lang tầng bốn lạnh và tối từng đoạn. Đầu đọc thẻ ở lớp cửa thứ hai không sáng. Tưởng Nghiên cúi xuống hộp điện, thấy dây nguồn đã được rút rồi cắm lại bằng một đầu nối sạch bụi. Anh Hòa chụp ảnh trước khi dùng chìa cơ niêm phong. Cánh cửa mở mà không phát cảnh báo; cảm biến trên khung vẫn có điện nhưng đã bị vòng qua bằng một đoạn dây giấu sau nẹp.
Bên trong không có người. Bảy máy trạm phủ bụi xếp dọc tường, chỉ T4-KT-07 còn hoạt động. Quạt nguồn quay chậm, đèn mạng chớp đều, màn hình ngủ. Lớp bụi dưới chân bàn bị xáo thành một vệt hẹp dẫn tới ổ cắm mạng. Giữa cổng máy và ổ tường có thêm một hộp đen nhỏ không mang tem kiểm kê, cạnh bên có khe thẻ dữ liệu và một đèn xanh bị che bằng băng keo.
Tưởng Nghiên chụp toàn cảnh, số tài sản, dây cáp và trạng thái đèn. Cô gửi tín hiệu một rung. Ở dưới tầng, Trạch Hành mở tài liệu giả. Lưu lượng của T4-KT-07 tăng vọt, một kết nối mới được dựng qua hộp đen. Phiên giám sát đang bám theo thao tác của riêng anh, không phải một quy trình kiểm tra chung.
Màn hình T4-KT-07 tự sáng. Một cửa sổ lệnh hiện chưa đầy một giây, đủ để Tưởng Nghiên thấy chuỗi xóa bộ nhớ tạm. Cô không tắt máy. Cô kẹp bộ cô lập vào đường cáp, cắt liên lạc ra ngoài nhưng giữ nguyên nguồn. Lệnh dừng giữa chừng, con trỏ đứng bất động sau ký tự thứ mười hai.
Anh Hòa khóa hành lang và gọi tổ giám định số theo mã sự cố, không nêu tên vụ Diệp Vân. Tưởng Nghiên đánh dấu hai đầu cáp, tháo hộp đen vào túi chống tĩnh điện rồi sao chép lịch phiên, bảng thay đổi quyền và vùng nhớ tạm qua thiết bị một chiều. Cô không mở file người dùng; ưu tiên là giữ những dữ liệu sẽ mất nếu máy sập nguồn.
Lịch sử cho thấy tài khoản của người đã nghỉ việc được kích hoạt lại ba tuần trước bằng một lần đặt lại mật khẩu từ nhóm quản trị bảo trì. Sau đó nó chỉ đăng nhập vào những đêm có hồ sơ bị đổi mức ưu tiên, mỗi phiên bắt đầu ngay sau khi một tài khoản nghiệp vụ mở dữ liệu nhạy cảm. Tên người dùng cũ chỉ là vỏ bọc; quyền thật được cấp bởi một mã nhóm không có cá nhân chịu trách nhiệm.
“Anh còn bị theo dõi không?” Tưởng Nghiên hỏi qua đường dây đã tách mạng. Trạch Hành nhìn bản chụp ngoại tuyến. Phiên giám sát ngừng cập nhật đúng lúc kết nối tầng bốn bị cô lập. “Dừng rồi.” Anh không tỏ ra nhẹ nhõm. Việc đó chỉ chứng minh họ đã chạm đúng dây.
Hoàng Sơn thừa nhận nhóm bảo trì từng do anh đề xuất để xử lý thiết bị cảnh báo không có người trực. Mật khẩu ban đầu được giao cho ba đầu mối, trong đó một mã thuộc nhà thầu đã bảo trì hệ thống loa khu dân cư. Hợp đồng hết hạn tám tháng trước nhưng chứng thư truy cập chưa bị thu hồi. Không chi tiết nào đủ quy kết một người; ghép lại, chúng tạo thành con đường vào hệ thống mà không hiện trên nhật ký chính.
An Chi thay bình ôxy nhỏ cho Bơ. Nhịp thở con mèo bớt gấp nhưng thân nhiệt vẫn thấp. Cô hỏi có phiên nào trùng lúc quyền camera của Diệp Vân bị cắt hay không. Tưởng Nghiên rà thời gian: phiên mới nhất mở sớm hơn cuộc gọi của Bảo Cường bốn mươi hai giây và kết thúc đúng lúc chiếc xe bạc mất khỏi luồng giao thông.
Căn phòng im đi. Trạch Hành không biến sự trùng thời gian thành kết luận. Anh yêu cầu ghi rõ đó chỉ là tương quan, niêm phong bản gốc và tạo hai bản sao kiểm tra độc lập. Dấu hiệu can thiệp hệ thống đã rõ hơn, nhưng họ vẫn chưa có bằng chứng chiếc xe đang chở Diệp Vân.
Trong vùng nhớ tạm, Tưởng Nghiên tìm thấy thư mục chẩn đoán của công cụ bảo trì cảnh báo công cộng. Mỗi lần kết nối từ xa, hệ thống lưu vài giây âm thanh hồi tiếp để đo độ trễ. Phần lớn tệp chỉ có tiếng nhiễu điện, nhưng tệp mới nhất được tạo đúng lúc phiên giám sát bắt đầu. Cô sao chép nó qua thiết bị một chiều, gửi mã kiểm tra xuống máy cách ly rồi mới cho Trạch Hành mở bằng tai nghe rời.
Đoạn âm thanh dài sáu giây bắt đầu bằng tiếng rè, tiếp theo là ba nốt chuông điện tử và giọng nữ phát qua loa ngoài trời: “…đề nghị các hộ dân khu tái định cư giữ lối xe cứu hộ thông thoáng…” Phía sau có tiếng gió quất vào tấm kim loại và một động cơ nổ không đều. Tệp được tạo lúc 03:07, thời điểm loại thông báo này không nằm trong lịch phát.
Tưởng Nghiên mở bảng định danh âm thanh của hệ thống cũ. Ba nốt chuông không dùng chung toàn thành phố; mỗi cụm loa có mã riêng để kỹ thuật viên nhận biết khi kiểm tra. Mã trong đoạn ghi thuộc một khu tái định cư phía đông, nằm sau cầu và ngoài vùng camera vừa bị cắt quyền truy cập.
“Chưa biết người sử dụng phiên giám sát có ở đó hay chỉ đi qua một thiết bị đặt tại đó,” Trạch Hành nói. An Chi đáp: “Nhưng đó là tín hiệu đầu tiên xuất hiện sau cầu mà không đến từ hệ thống đã bị sửa.” Họ chỉ ghi tên khu vực, thời gian ba giờ bảy phút và câu thông báo phát sai lịch, không gọi đó là vị trí của Diệp Vân.
Phó Nhiên xác nhận khu tái định cư có ba cụm loa, một trạm y tế đêm và hai lối xe dịch vụ nối xuống tuyến ven sông. Trạch Hành đề nghị đơn vị địa bàn xác minh thông báo loa phát sai lịch và kiểm tra khả năng có phương tiện cản lối cứu hộ. Đó là một yêu cầu hành chính hợp lệ, không tiết lộ họ đã chiếm được T4-KT-07.
Trước khi cuộc gọi được nối, đoạn âm thanh trên máy cách ly tự chạy lại theo chế độ kiểm tra. Ba nốt chuông vang lên trong căn phòng thấp sáng. Lần này, dưới giọng loa méo và tiếng động cơ, An Chi nghe thấy một âm thanh khác: một tiếng ho ngắn, bị nén lại như người phát ra đang cố không để ai nhận biết.
