Bỏ qua nội dung

Loi Khai Cuoi Cung

Chương 37 - Chương 37: Hồ Sơ Bị Lấy Đi

Chiếc chìa khóa đầu tiên chạm vào ổ tủ lúc mười hai giờ bốn mươi bảy. An Nhiên đặt tay lên cánh tủ trước khi điều tra viên kịp xoay thêm nửa vòng, không cản nhưng buộc hai người chứng kiến nhìn rõ dải niêm phong đỏ cô vừa dán chéo mép kim loại. “Đề nghị ghi biên bản: tủ này có hồ sơ của nhiều thân chủ không liên quan đến lệnh. Mỗi ngăn mở riêng, tài liệu ngoài phạm vi không được sao chụp.”

Người kiểm sát viên đọc lại phạm vi thu giữ rồi cho thư ký bổ sung ý kiến. Ông không tranh luận về bí mật nghề nghiệp, nhưng cũng không thu hẹp lệnh bằng lời nói. Hùng kéo một chiếc bàn trống ra giữa phòng, chia thành ba phần bằng băng giấy: thuộc phạm vi, đang tranh chấp và ngoài phạm vi. Quân đứng cạnh đồng hồ treo tường, ghi từng lần tủ mở, từng người chạm vào hồ sơ và số túi vật chứng được phát.

An Nhiên đưa biên bản của cơ quan lưu trữ, xác nhận bản gốc cuốn sổ bìa xanh vẫn nằm tại kho nhà nước. Điều tra viên trưởng tên Trịnh xem dấu nhận rồi hỏi văn phòng có bản sao hay ảnh chụp hay không. “Có tài liệu làm việc được tạo hợp pháp trong quá trình tư vấn,” cô đáp. “Phần nào được thu giữ phải xác định từng mục, không phải bằng cách lấy toàn bộ thiết bị.”

Trịnh ra hiệu cho kỹ thuật viên không tháo máy chủ. Họ lập bản sao pháp chứng tại chỗ, dùng ổ lưu trữ mới còn nguyên niêm phong và để Hùng ghi mã thiết bị trước khi kết nối. Đổi lại, họ yêu cầu tạm giữ một ổ cứng ngoài màu bạc chứa thư mục BH-MD-18-0417, hai máy tính xách tay và tập tài liệu in có nhãn “Đối chiếu xe đen”. An Nhiên phản đối mục cuối vì bìa nhãn quá rộng, buộc họ đọc từng tờ trước mặt người chứng kiến.

Thứ khiến Quân không rời mắt khỏi cánh tủ thấp bên phải lại là hồ sơ HĐ-ĐC-02, tập mỏng Mai Hạnh hoàn tất lúc ba giờ bốn mươi tám sáng. Bên trong có phiếu giao nhận bản sao camera của tiệm sửa xe, bản đối chiếu thời gian email Hải Đăng và một trang ghi tay của Sâm về biển số giả. Không tài liệu nào tự mình kết luận được điều gì, nhưng mất một mắt xích sẽ khiến toàn bộ chuỗi phải giải thích lại.

Mai Hạnh đứng sát quầy tiếp tân, mỗi khi tài liệu được đặt lên bàn “thuộc phạm vi”, cô đọc số hồ sơ cho Quân đối chiếu với danh mục điện tử. Khi kỹ thuật viên yêu cầu mật khẩu máy chủ, cô chỉ cung cấp tài khoản sao lưu giới hạn do Hùng vừa tạo. Trịnh nhắc rằng họ có thể niêm phong toàn bộ nếu văn phòng trì hoãn. Mai Hạnh đáp đều giọng: “Chúng tôi đang hợp tác. Hợp tác không có nghĩa là từ bỏ quyền của những người không có tên trong lệnh.”

Cuộc khám xét kéo dài hơn bốn giờ. Hai lần điều tra viên định mở phong bì có dấu “ý kiến tư vấn”, An Nhiên đều yêu cầu tạm dừng để kiểm sát viên quyết định. Một lần họ giữ lại bản sao thư Minh Châu gửi cho cô vì tên Hải Đăng xuất hiện trong nội dung; An Nhiên không giằng lại, chỉ đọc vào máy ghi âm rằng việc niêm phong không đồng nghĩa với chấp nhận tính hợp lệ của thu giữ. Không ai lớn tiếng. Sự căng thẳng nằm trong những câu bị buộc phải nói chính xác.

Kha đến khi túi vật chứng thứ chín được dán kín. Anh đứng ngoài vạch, đưa điện thoại cho Quân xem màn hình đã tắt kết nối dữ liệu rồi hỏi có cần người làm chứng độc lập không. An Nhiên lắc đầu. “Anh chỉ ghi những gì mắt thấy. Không đăng, không gọi nguồn, không suy đoán.” Kha gật, ngồi xuống sát tường và ghi số niêm phong bằng bút.

Đến mười sáu giờ năm mươi lăm, đoàn khám xét rời An Bình với mười một túi vật chứng. Bản gốc cuốn sổ bìa xanh không có trong văn phòng; bản sao những trang liên quan bị đưa vào túi E-08 sau khi An Nhiên ghi phản đối. Trịnh để lại biên bản bảy trang, danh mục thu giữ và lời nhắc rằng mọi thay đổi dữ liệu sau thời điểm khám xét đều có thể bị xem xét.

Cửa kính đóng lại. Căn phòng vẫn nguyên bàn ghế, nhưng những khoảng trống trên kệ khiến nó giống một nơi vừa bị ai đó lục lại ký ức rồi chọn phần muốn mang đi. An Nhiên kéo bản kiểm kê về giữa bàn. “Không bàn chiến lược trước khi đối chiếu xong. Mỗi người một cột: đã thu, còn tại chỗ, đang tranh chấp.”

Hai máy tính thiếu khỏi bàn đúng với biên bản. Ổ cứng màu bạc nằm ở dòng sáu. Bản sao nhật ký Vy nằm trong túi E-08. Tập “Đối chiếu xe đen” bị thu chỉ gồm bản làm việc số một, đúng số tờ điều tra viên đã đếm. Quân đánh dấu từng mục cho đến khi Mai Hạnh mở ngăn tủ thấp bên phải và đứng im.

Ngăn tủ không rỗng. Ba hồ sơ khác vẫn nằm đúng vị trí, gáy quay ra ngoài theo thứ tự mã. Chỉ khoảng giữa HĐ-ĐC-01 và HĐ-ĐC-03 trống một khe vừa đủ cho tập mỏng. Mai Hạnh kéo toàn bộ khay ra khỏi ray trượt rồi quay sang danh mục thu giữ. Không có mã HĐ-ĐC-02, không có phiếu giao nhận camera, cũng không có trang ghi tay của Sâm. “Tôi cất nó vào đây lúc ba giờ bốn mươi tám,” cô nói. “Tôi tự khóa tủ.”

Hùng không hỏi cô có chắc hay không. Anh lấy ảnh kiểm kê đêm trước từ hệ thống nội bộ. Tấm cuối cùng được tạo lúc ba giờ năm mươi mốt, cho thấy gáy HĐ-ĐC-02 nằm giữa hai tập còn lại, góc bìa có miếng dán vàng của Mai Hạnh. Mã kiểm tra của ảnh đã được gửi tới kho lưu giữ ngoài văn phòng lúc bốn giờ lẻ ba, nên không thể được tạo lại sau cuộc khám xét.

An Nhiên đọc biên bản thêm một lần, chậm đến mức Quân nghe tiếng móng tay cô trượt trên mép giấy. Cô hỏi đoàn khám xét có mở ngăn này hay không. Quân xác nhận điều tra viên số ba đã mở lúc mười ba giờ mười hai, lấy HĐ-ĐC-01 ra xem rồi đặt lại. Anh không thấy ai cầm tập số hai. Kha nói nhỏ: “Không thấy không có nghĩa là nó còn ở đó.”

Hùng yêu cầu mọi người dừng chạm vào tủ. Anh chụp khe trống, tay nắm, ổ khóa và bụi ở chân ray, sau đó dán niêm phong tạm lên toàn bộ ngăn. Nếu tập hồ sơ bị lấy trong lúc khám xét, họ phải khiếu nại và yêu cầu bảo toàn camera của đoàn. Nếu nó biến mất trước đó, lỗ hổng nằm trong chính An Bình. Hai khả năng đều xấu, nhưng chỉ một giải thích được vì sao mã hồ sơ không xuất hiện trong biên bản thu giữ.

Mai Hạnh lấy sổ chìa khóa từ ngăn kéo quầy. Chìa tủ hồ sơ có hai bản đang hoạt động: một do cô giữ, một nằm trong phong bì niêm phong của An Nhiên. Phong bì vẫn nguyên chữ ký chéo từ tháng trước. Chìa cửa chính có bốn bản, đều được ghi nhận. Cửa sau, theo sổ, có hai bản sau lần thay khóa tám tháng trước: một ở Mai Hạnh, một gửi chủ nhà để dùng khi có sự cố.

Ánh mắt An Nhiên dừng ở Mai Hạnh không lâu, nhưng đủ để căn phòng đổi nhiệt độ. Cô không hỏi chìa của Mai Hạnh đã rời khỏi người cô lúc nào. Cũng không nói rằng người giữ quy trình chặt nhất thường là người đầu tiên bị nghi khi quy trình thủng. “Kiểm tra camera,” cô nói. “Từ lúc chúng ta khóa cửa đêm qua đến khi đoàn khám xét đến.”

Camera trước cửa chính không có khoảng mất hình. Mai Hạnh rời văn phòng lúc bốn giờ mười bảy cùng Hùng; Quân và An Nhiên đi sau ba phút. Cửa được kéo thử hai lần, hệ thống báo động được kích hoạt. Bảy giờ hai mươi sáu, Mai Hạnh quay lại, tắt báo động bằng mã của mình và ở trong văn phòng cho đến khi đoàn điều tra xuất hiện. Không có ai đi qua cửa chính trong khoảng đó.

Camera hành lang sau khó xem hơn. Nó không chĩa thẳng vào cửa vì chủ nhà từng phản đối góc quay bao trùm lối đi chung. Khung hình chỉ thấy một đoạn tường, mép tay nắm và ô kính mờ. Lúc sáu giờ mười một, hình ảnh rung nhẹ như có người chạm vào cánh cửa từ phía ngoài. Ba giây sau, cảm biến hồng ngoại bắt được một bóng tối lướt qua mép khung rồi biến mất vào điểm mù.

Quân tua lại. Không có mặt, không có biển số, không có thứ gì đủ để gọi tên một người. Nhưng âm thanh lưu riêng cho thấy tiếng kim loại chạm nhau, ngắn và khô, sau đó là hai tiếng xoay ổ khóa. Cửa mở trong mười một giây rồi khép lại. Nhật ký hệ thống không có bản ghi tắt báo động; cảm biến cửa sau cũng không chuyển trạng thái, nghĩa là người vào đã biết cách giữ nam châm tiếp điểm hoặc biết chính xác chỗ cánh cửa bị lệch.

“Người này biết văn phòng,” Kha nói. An Nhiên không đồng ý cũng không bác bỏ. Cô yêu cầu sao lưu đoạn video, xuất nhật ký gốc và gửi mã kiểm tra tới ba nơi khác nhau. Không ai được gọi chủ nhà trước khi có bản sao độc lập, không ai được hỏi nhân viên cũ bằng điện thoại cá nhân. Sau đó cô quay sang Mai Hạnh. “Từ bây giờ, chìa khóa của từng người đặt lên bàn. Không phải vì tôi kết luận ai làm. Vì chúng ta không được để một nghi ngờ chưa kiểm chứng phá nốt phần còn lại.”

Mai Hạnh tháo chùm chìa khỏi túi, đặt xuống trước mặt cô. Tiếng kim loại va bàn nhỏ hơn tiếng trong bản ghi, nhưng Quân vẫn thấy vai cô cứng lại. Cô không tự bào chữa. Chỉ mở sổ bảo trì tòa nhà, lật đến trang thay khóa tám tháng trước rồi chỉ vào một dòng viết tay bị gạch ngang: “Cửa sau – chưa thay lõi, chờ phụ kiện.”

Phiếu nghiệm thu An Bình đã nhận ghi “hoàn tất thay khóa toàn bộ”, nhưng sổ kỹ thuật cho thấy ổ cửa sau vẫn là ổ cũ của tòa nhà. Những chìa mới Mai Hạnh giữ chỉ thuộc cửa chính; suốt tám tháng, họ đã tin cánh cửa phía sau cũng được thay. Quân phóng lớn khung hình sáu giờ mười một. Khi bóng người rút tay khỏi mép cửa, camera bắt được một vệt sáng rất ngắn: mặt đồng của một chiếc chìa thân dài, loại cũ không còn được ghi trong sổ An Bình.

Hồ sơ HĐ-ĐC-02 không biến mất giữa cuộc khám xét. Có người đã vào văn phòng trước đó, lấy đúng một tập và rời đi mà không làm báo động kêu. Người ấy không cần phá khóa. Họ dùng một chiếc chìa khóa lẽ ra đã không còn mở được cửa An Bình.