Chương 29 - Chương 29: Người Biết Đã Chết
Chương 29: Người Biết Đã Chết
Giọt nước cuối cùng từ mái hiên Vĩnh Ninh rơi đúng lên mũi giày Tạ Uyển khi nàng bước qua ngưỡng. Nàng không quay lại. Câu “Việc này, ta sẽ tự lo” vẫn theo sau, không lớn hơn tiếng mưa, nhưng đủ khiến mỗi bước trên hành lang dài thêm một nhịp. Chiêu Nghi đã chọn tách hai đường điều tra để bảo vệ nàng; Tạ Uyển hiểu điều đó. Chính vì hiểu, nàng càng không thể coi sự bình thản của công chúa là một lời bảo đảm rằng mọi việc sẽ an toàn.
Trở về Nội Lễ ty, Tạ Uyển lập tức xin tra sổ người rời cung năm Thừa Đức thứ tư và thứ năm. Viên nữ quan coi kho chỉ đưa cho nàng một tờ mục lục đã mốc mép, nói những quyển liên quan Vĩnh Ninh đang chờ kiểm kê sau vụ cháy kho sổ. Tạ Uyển không tranh. Nàng ghi lại số hòm, tên người tiếp nhận và giờ từ chối vào sổ công vụ, rồi ngồi đến khi đèn cạn một nửa để đối chiếu những bản kê lụa còn sót. Không có tên người phụ trách đổi lụa. Chỉ có một dòng bị gạch son: “Nhân sự cũ đã xuất cung, không truy bổ.”
Nàng vừa chợp mắt bên án chưa đầy một canh thì tiếng chuông điểm mão vang lên. Mạnh cô cô đến trước khi nữ sử trực kịp thay trà. Áo ngoài của bà còn đọng hơi sương, dưới tay áo giấu một tấm thẻ gỗ của phường Tây Thành. Trên mặt thẻ viết bốn chữ bằng mực vội: “Cựu nữ sử vong.”
“Là người ngoài cửa Tây?” Tạ Uyển hỏi.
“Lưu thị, tên cũ Lưu Tố Cầm. Năm Thừa Đức thứ tư coi kho lụa phía đông Vĩnh Ninh, đầu năm sau rời cung.” Mạnh cô cô đáp. “Điện hạ không để A Nhiễm đi một mình. Nàng ấy đi cùng Trịnh nội thị và hai người giữ thẻ cửa, danh nghĩa là đem than thuốc đến cho người cũ từng hầu Thục phi. Khi tới nơi, Lưu thị đã treo cổ trong gian sau.”
Ngón tay Tạ Uyển đặt trên mép án khẽ co lại. “Điện hạ đâu?”
“Vẫn ở Vĩnh Ninh từ đêm qua đến giờ. Sổ trực và người canh đều có thể làm chứng.” Mạnh cô cô nhìn nàng. “Người chết nằm ngoài cung, trên cổ lại dùng một sợi dây không giống đồ dân gian. Phường Tây Thành sợ dính đến nội đình nên báo lên. Nội Lễ phải cử người nhận vật.”
Tạ Uyển hiểu phần còn lại. Mạnh cô cô là người Vĩnh Ninh, nếu xuất hiện sẽ khiến mọi việc bị hiểu thành công chúa sai người truy tìm nhân chứng. Tạ Uyển thì có thể đi bằng chức trách, có công văn, có người giám sát và có từng bước để ghi vào sổ.
Nửa canh sau, nàng rời cửa Tây trên xe của Nội Lễ ty. Phó Cẩn cưỡi ngựa đi bên phải, bốn cấm vệ theo sau. Hắn được lệnh hộ tống và giữ nguyên vật chứng, cũng có nghĩa mọi lời Tạ Uyển nói ngoài cung đều sẽ tới tai người đã sai hắn giám sát. Khi xe dừng trước một con ngõ hẹp còn đọng nước, hắn mới nói: “Tạ nữ quan chỉ đến nhận dây, không phải tra án.”
“Tôi biết quyền của mình đến đâu.” Tạ Uyển đáp. “Phó đại nhân cũng nên biết.”
Nhà của cháu Lưu thị nằm cuối ngõ, mái thấp, cửa gỗ mở rộng. Mùi đất ẩm lẫn với mùi dầu đèn chưa tắt. A Nhiễm đứng sát vách, sắc mặt trắng hơn lớp hồ trên cổ áo. Thấy Tạ Uyển, nàng theo bản năng bước lên, rồi nhớ tới những quy tắc vừa đặt ra mà dừng đúng hai bước, cúi người hành lễ. Trịnh nội thị đứng cạnh, hai tay giữ một khay gỗ. Trên khay là tấm bài xuất cung cũ và đoạn dây trắng đã tháo khỏi xà.
Thi thể Lưu thị được đặt sau tấm bình phong vải. Viên lại phường đang viết tờ khai: “Tự tận do tuổi già, tâm trí bất an.” Người cháu quỳ dưới đất, cứ lặp đi lặp lại rằng tối qua cô mình còn dặn sáng nay nấu thêm cháo kê vì có khách từ cung đến.
“Người chết có nói khách là ai không?” Tạ Uyển hỏi.
Người cháu lắc đầu. “Cô chỉ bảo, người ấy biết chuyện tấm lụa bị đổi. Còn đem áo sạch đặt cạnh giường. Người muốn chết sao lại chuẩn bị đón khách?”
Viên lại phường đặt bút xuống. “Một lời dặn không thể đổi kết luận.”
Tạ Uyển không tranh về lòng người. Nàng nhìn căn phòng. Chiếc ghế gỗ dưới xà vẫn đặt ngay ngắn bên tường, mặt ghế phủ bụi mỏng không có dấu chân. Đôi giày của Lưu thị xếp song song dưới giường. Trên bàn là hai chén trà, một chén đã rót nước, chén còn lại úp xuống. Những thứ ấy chưa đủ chứng minh có kẻ giết người, nhưng cũng không giống một căn phòng vừa được người chủ quyết ý bỏ lại.
“Lúc phát hiện, ai cắt dây?”
“Trịnh nội thị.” A Nhiễm đáp, giọng khàn. “Chúng tôi gọi ba lần không ai mở. Người cháu dùng chìa dự phòng. Khi vào, Lưu ma ma đã không còn thở. Trịnh nội thị cắt phần trên xà, giữ nguyên nút ở cổ cho người khám nghiệm nhìn. Không ai mở nút.”
Tạ Uyển dùng một chiếc thẻ tre nâng đoạn dây lên. Dây không phải thừng gai trong dân hộ, mà là lụa thô se bốn, bên trong có lõi đay mảnh. Loại này dùng buộc lớp áo ngoài của hòm ngọc và giá rèm khi chuyển qua cửa cung. Phần nút còn nguyên, hai vòng ép vào nhau thành hình cánh hoa khép. Đầu ngắn giấu dưới vòng trái, đầu dài luồn ngược qua mắt giữa rồi khóa lại.
Đây là “nút khóa vân”, một nút lễ không dùng trong y phục, càng không dùng để treo vật. Người của Nội Lễ thắt nó khi hòm đã nằm ngang trước mặt, hai tay cùng hướng ra ngoài. Nếu tự quàng dây lên cổ rồi thắt, chiều luồn cuối phải ngược lại; mắt nút không thể nằm ngay ngắn sau tai trái như dấu hằn trên cổ Lưu thị.
“Có gì không đúng?” Phó Cẩn hỏi.
“Nút này được thắt trên một vật ở trước mặt người thắt.” Tạ Uyển đáp.
Viên lại phường cau mày. “Người chết từng ở trong cung, biết nút lễ cũng không lạ.”
“Lưu thị rời cung mười một năm. Nút khóa vân chỉ được đưa vào quy thức hòm ngọc từ năm Thừa Đức thứ tám, sau khi nàng ta xuất cung ba năm.” Tạ Uyển nói chậm rãi. “Sợi dây này cũng là vật dụng của kho lễ hiện hành. Theo lệ, vật nội đình xuất hiện trong một cái chết bất thường phải được niêm riêng, giữ hiện trường cho đến khi huyện nha khám nghiệm. Tờ khai chưa thể viết hai chữ ‘tự tận’.”
Viên lại phường nhìn Phó Cẩn, chờ cấm vệ ép một nữ quan thôi xen vào việc ngoài quyền. Phó Cẩn cúi xuống nhìn nút dây. Một thoáng rất ngắn, bàn tay hắn siết trên chuôi kiếm rồi buông ra. “Tạ nữ quan nói về vật của nội đình,” hắn bảo. “Giữ hiện trường. Đợi huyện nha.”
Viên lại phường đành gạch bỏ nửa dòng vừa viết. Tạ Uyển tự tay ghi tên vật chứng: “Một đoạn dây lụa thô se bốn, nút khóa vân, chưa rõ kho xuất.” Nàng không viết “giết người”, cũng không viết “ngụy tạo”. Điều chưa chứng minh được, nàng không cho phép mình biến thành lời chắc chắn.
Khi người phường lui ra, A Nhiễm mới thấp giọng nói: “Lưu ma ma từng nhờ hàng xóm chuyển lời. Bà ấy bảo còn giữ một mảnh lụa lót lấy từ chiếc hòm năm Thục phi mất. Trong nhà không có mảnh lụa nào.”
Tạ Uyển quay lại bàn. Dưới chân đèn có một gói vải dầu đã mở, mép trong còn vệt bụi sạch hình chữ nhật, như từng bọc một vật mỏng. Kẻ đến trước không chỉ giết người; hắn biết phải lấy gì. Hắn biết Lưu thị giữ mảnh lót hòm, biết người của Vĩnh Ninh sẽ tới sáng nay, và có đủ thời gian dùng dây kho lễ dựng thành một cái chết tưởng như tự nguyện.
“Đường tìm người bị lộ từ đâu?” A Nhiễm hỏi, mắt đỏ lên vì giận.
“Cửa cung, thẻ xuất, danh mục than thuốc, người từng dò tung tích.” Tạ Uyển đáp. “Một việc đi qua quy chế sẽ để lại dấu. Kẻ kia chỉ cần nhìn dấu ấy nhanh hơn chúng ta.”
Nàng không trách Chiêu Nghi. Nếu đi bí mật, cái chết này có thể bị chôn ngay trong ngày và A Nhiễm cũng có thể thành người xâm nhập nhà dân. Đi công khai khiến đối phương biết, nhưng để lại thẻ cửa, người chứng và lý do giữ hiện trường. Trong ván cờ này, không có đường hoàn toàn sạch. Chỉ có đường khiến cái giá không rơi hết lên người yếu nhất.
Trước khi rời nhà, Tạ Uyển nhìn lại đoạn dây đã được đặt vào túi giấy niêm. Ở đầu dây dài có một chỗ sờn nhỏ, phủ lớp bụi đỏ nhạt. Không đủ để nhận là son niêm, càng không đủ nối với kho nào. Nàng chỉ ghi “có bột đỏ” vào cuối biên bản rồi đóng dấu Nội Lễ. Phó Cẩn đứng nhìn toàn bộ, không ngăn, cũng không hỏi thêm.
Chiều hôm ấy, Tạ Uyển không đến Vĩnh Ninh. Theo đúng quy tắc mới, nàng gửi bản sao biên nhận qua Mạnh cô cô trước mặt hai nữ sử trực. Đến khi trời tối, Vĩnh Ninh mới trả lại một phiếu hỏi chính thức: “Cựu nữ sử Lưu thị có được xác nhận tự tận hay không?” Dưới phiếu không có chữ Chiêu Nghi, chỉ có ấn của cung.
Tạ Uyển viết: “Chưa thể xác nhận. Nút dây không phù hợp với hành vi tự thắt. Vật chứng đã niêm, hiện trường đã giữ.” Nàng dừng bút. Có những lời không thể đặt vào giấy, cũng như có những ánh mắt không được phép giữ lâu. Nhưng khi gấp phiếu, nàng chợt hiểu vì sao kẻ giết người lại chọn đúng nút khóa vân.
Muốn dựng một vụ tự tận, hắn chỉ cần một nút thừng bình thường. Nút lễ phức tạp ấy không làm cái chết kín hơn; trái lại, nó khiến người Nội Lễ vừa nhìn đã biết có bàn tay khác. Kẻ kia không sơ suất. Hắn cố ý để lại thứ Tạ Uyển có thể đọc được, như Chiêu Nghi từng giấu lời trong thơ và trong đường chỉ áo cưới.
Lời nhắn chỉ có một nghĩa.
Người biết đã chết. Người còn biết nhìn, nên dừng lại.
Tạ Uyển đặt bút xuống. Ngoài cửa, tiếng rèm châu từ gian trực bên cạnh va nhau một tiếng rất khẽ. Nàng nhìn dấu niêm đỏ trên bản ghi, trong lòng không còn nghĩ đây là một cái chết bị che giấu nữa.
Đây là một lời cảnh cáo được thắt bằng nút lễ, gửi thẳng đến nàng.
