Bỏ qua nội dung

Thiên kim bị đánh cắp

Chương 49 - Chương 49: Tần Dự Chuộc Lỗi

Chương 49: Tần Dự Chuộc Lỗi

Cửa phòng kính còn chưa kịp đóng lại, hai tin tức đã cùng lúc đè xuống vai tôi: Tần Dự đang ở sảnh An Thừa, mang theo bản sao phiếu niêm phong kép; Tạ Kính Hòa vừa vào bệnh viện bằng cổng sau. Một người từng im lặng hai mươi bốn năm, một người luôn xuất hiện đúng lúc để làm người hòa giải. Nếu là đời trước, có lẽ tôi sẽ tin một trong hai người họ đến vì muốn cứu vãn chút thể diện cuối cùng của Tạ gia. Nhưng sau khi đã nhìn thấy lệnh chuyển hủy C-17/GNL-23 được đăng ký lúc sáu giờ hai mươi bảy, tôi biết trong bệnh viện này không có bước chân nào là vô tình.

Tôi nhìn Hà Mẫn trước. “Gọi khu C, yêu cầu dừng mọi thao tác chuyển hủy. Nếu bên đó nói không nhận lệnh từ cô, bảo họ giữ nguyên hiện trường và chuyển máy cho pháp chế.” Hà Mẫn cầm điện thoại, môi trắng đến mức gần như không còn sắc máu. Tôi lại quay sang Lâm Tĩnh. “Đưa luật sư Tần lên phòng lập lời khai. Camera mở từ hành lang. Không để ông ấy gặp riêng bất cứ ai của Tạ gia trước khi vào đây.” Lâm Tĩnh gật đầu, cầm túi hồ sơ đi rất nhanh. Kỷ Sơ đã đứng sát cửa, một tay giữ điện thoại, một tay mở giao diện ghi hình. Cố Trầm Chu ở phía sau tôi nửa bước, thấp giọng hỏi: “Có cần đội pháp lý của Cố Tín vào biên bản không?” Tôi đáp: “Giữ đường dây. Đừng đi trước tôi.” Anh chỉ nói: “Được.”

Một chữ ấy không nặng, nhưng đúng lúc. Trước đây tôi từng sợ người khác nói “để tôi lo” vì sau câu đó thường là một cánh cửa đóng lại trước mặt tôi. Cố Trầm Chu không đóng cửa. Anh chỉ đứng cạnh cửa, để tôi tự bước qua.

Năm phút sau, Tần Dự được Lâm Tĩnh đưa vào. Ông mặc áo sơ mi xám bên trong áo khoác đen, cổ áo hơi lệch, tóc hai bên thái dương ướt mồ hôi dù sảnh bệnh viện lạnh đến mức người ta phải co vai. Người đàn ông trên điện thoại nghe đã mệt mỏi, nhưng người thật trước mặt còn cũ kỹ hơn rất nhiều, như thể hai mươi bốn năm im lặng không nằm trong lịch, mà nằm trên từng nếp nhăn quanh mắt ông. Ông không nhìn tôi ngay. Ông đặt một phong bì màu nâu lên bàn inox, hai tay rời khỏi nó trước camera rồi mới ngẩng đầu. “Tôi yêu cầu lập lời khai khẩn cấp với tư cách luật sư riêng cũ của bà Hạ Lan Uyển và người chứng kiến niêm phong mẫu C-17/GNL-23.”

Lâm Tĩnh lập tức đọc thời gian, địa điểm, danh sách người có mặt. Pháp chế An Thừa muốn chen vào yêu cầu chờ giám đốc trung tâm, nhưng tôi chỉ nhìn cây bút trong tay anh ta. “Anh có thể ghi ý kiến phản đối. Nhưng lời khai vẫn được lập.” Anh ta cứng mặt, cuối cùng cúi đầu viết. Tần Dự mở phong bì, bên trong là ba bản sao ép plastic đã cũ: phiếu chuyển mẫu ngoại lệ, biên bản niêm phong kép và một trang sổ khách phòng xét nghiệm đêm tôi chào đời. Ở góc dưới phiếu niêm phong có hai chữ ký. Một là Giang Nhược Lan. Một là Tần Dự.

Trong khoảnh khắc nhìn thấy tên mẹ tôi xuất hiện ở dòng “sản phụ liên quan”, ngực tôi như bị ai ấn xuống bằng một bàn tay lạnh. Hạ Lan Uyển. Ba chữ ấy đã bị Tạ gia giấu trong phòng khóa, trong hồ sơ xé, trong những câu nói “vì đại cục” và “đừng làm mất mặt gia đình”. Vậy mà trên tờ giấy mỏng trước mắt, tên bà vẫn nằm ở đó, bình tĩnh hơn tất cả những người còn sống. Tôi đặt tay lên mép bàn, không chạm vào giấy. “Ông đọc.”

Tần Dự khàn giọng: “Đêm đó, sau khi bà Hạ sinh, bác sĩ Giang Nhược Lan phát hiện tuyến lưu mẫu sơ sinh bị yêu cầu chuyển qua người nhận không thuộc ca trực chính. Người đó là Đỗ Vĩnh An. Bác sĩ Giang cho rằng tuyến bàn giao có rủi ro nên lập phiếu chuyển mẫu ngoại lệ, mã C-17/GNL-23, niêm phong kép bằng chữ ký của bác sĩ phụ trách và người chứng kiến pháp lý. Mẫu tủ A không phải mẫu duy nhất, cũng không phải mẫu được bà Hạ chỉ định dùng làm đối chứng cuối cùng.” Ông dừng lại, yết hầu động rất khẽ. “Bà Hạ từng nói với tôi, nếu một ngày đứa trẻ lớn lên mà không được gọi bằng tên của nó, hãy để mẫu C-17 nói thay bà ấy.”

Tôi đã chuẩn bị rất nhiều cách để giữ mình bình tĩnh, nhưng câu đó vẫn như một mũi kim xuyên qua lớp áo giáp. Không được gọi bằng tên của nó. Mẹ tôi không chỉ sợ tôi bị cướp tài sản. Bà sợ tôi lớn lên trong một cái tên bị người khác định nghĩa, sợ tôi cúi đầu trước một gia đình đã quyết định xóa tôi từ khi tôi chưa biết khóc. Tôi hỏi Tần Dự: “Vậy tại sao ông im lặng?”

Căn phòng lạnh đến mức tiếng máy móc cũng trở nên sắc cạnh. Tần Dự không né mắt tôi. “Vì tôi sợ.” Hai chữ rất đơn giản, nhưng không nhẹ. “Sau khi bà Hạ qua đời, bản gốc một phần hồ sơ bị yêu cầu bàn giao. Con trai tôi khi đó mới năm tuổi. Tôi nhận được ảnh trường mẫu giáo của nó, lịch sinh hoạt của vợ tôi, và một câu nhắn rằng nếu tôi muốn làm người chính nghĩa, gia đình tôi sẽ trả giá thay. Tôi giao ra thứ họ yêu cầu, rời Lăng Thành một thời gian, rồi tự thuyết phục mình rằng khi đứa trẻ còn sống trong Tạ gia, ít nhất nó còn an toàn.” Ông cười rất khẽ, không có chút nhẹ nhõm nào. “Đó là lời nói dối hèn nhất đời tôi. Cô không cần tha thứ. Tôi hôm nay đến không phải xin cô tha thứ, mà để những chữ ký tôi từng giữ lại có thể làm đúng việc chúng phải làm từ hai mươi bốn năm trước.”

Tôi nhìn ông rất lâu. Tôi từng ghét tất cả những người biết một phần sự thật nhưng chọn im lặng. Cơn ghét đó không mất đi chỉ vì một người cúi đầu. Nhưng khác với Tạ Chấn Nam, khác với những kẻ gọi sự im lặng là đại cục, Tần Dự ít nhất đã gọi đúng tên nó: sợ hãi. “Ông muốn chuộc lỗi thì đừng nói bằng cảm xúc.” Tôi đẩy biên bản về phía ông. “Nói bằng quy trình. Chúng tôi cần gì để ngăn lệnh hủy?”

Tần Dự lập tức lấy ra một bản kiến nghị đã soạn sẵn. “Một: đối tượng trẻ sơ sinh trưởng thành, tức cô, ký yêu cầu bảo toàn chứng cứ thân phận. Hai: người đại diện pháp lý của di sản Hạ Lan Uyển hoặc luật sư cũ có chứng cứ ủy thác, tức tôi, xác nhận mẫu liên quan đến quyền thừa kế. Ba: cơ sở lưu trữ phải khóa thao tác hủy ngay khi có tranh chấp về chuỗi chứng cứ. Bốn: mọi log truy cập từ sáu giờ đến hiện tại phải xuất ra bản đọc chỉ, không được chỉnh sửa.” Ông nhìn sang pháp chế An Thừa. “Nếu bệnh viện tiếp tục hủy sau khi nhận đủ bốn điểm này, đó không còn là lỗi hành chính.”

Pháp chế An Thừa chưa kịp đáp, cửa phòng kính mở ra lần nữa. Tạ Kính Hòa bước vào cùng Khương Bách và hai người mặc vest đen. Bác cả của tôi vẫn giữ vẻ ôn hòa quen thuộc, chiếc kính gọng mảnh nằm ngay ngắn trên sống mũi, giọng nói vừa đủ trầm để nghe như một người lớn đang cố dọn dẹp hỗn loạn. “Vãn Ninh, chuyện hồ sơ thân phận không nên để người ngoài vây quanh như thế này. Bác biết cháu chịu ấm ức, nhưng gia đình không muốn cháu bị truyền thông lợi dụng.” Ông nhìn phong bì trên bàn, ánh mắt dừng chưa đến một giây. “Luật sư Tần nhiều năm không làm việc trực tiếp với Tạ gia, ký ức có thể sai lệch. Tốt nhất chúng ta tạm niêm phong nội bộ, về nhà nói chuyện.”

Tôi bỗng thấy buồn cười. Từ đường Tạ gia, phòng mẹ bị khóa, hồ sơ sinh bị sửa, mẫu máu bị đưa vào lệnh hủy, tất cả đều đã từng được họ gọi là “về nhà nói chuyện”. Nhà trong miệng họ không phải nơi để người bị thương được chữa lành. Nó là nơi sự thật bị tháo thành từng mảnh nhỏ rồi cất vào ngăn kéo. Tôi hỏi: “Bác cả đến đón cháu, hay đến đón mẫu C-17?”

Vẻ mặt Tạ Kính Hòa không đổi. “Cháu đang nghi ngờ người thân của mình vì lời một người ngoài.” Tần Dự lúc này ngẩng đầu. “Tạ tiên sinh, hai mươi bốn năm trước, ở cửa phòng xét nghiệm, ông cũng gọi mình là người thân.” Không khí trong phòng đông cứng. Ngón tay Khương Bách khẽ siết lại trên cặp tài liệu. Tạ Kính Hòa cuối cùng quay sang ông, nụ cười vẫn còn nhưng đã mỏng hơn. “Tần luật sư, người làm nghề pháp lý nên hiểu, một câu nói không có chứng cứ có thể hủy hoại danh dự người khác.”

Tần Dự đặt trang sổ khách lên bàn, xoay về phía camera. “Vậy thì ghi là nghi vấn cần đối chiếu. Không cần hủy hoại danh dự ai cả. Chỉ cần xuất log camera và sổ ra vào khu xét nghiệm đêm đó, đối chiếu dòng ký tắt T.K.H. lúc không giờ bốn mươi hai.” Tôi nhìn dòng chữ nhỏ trên bản sao. Nét ký bị thời gian làm mờ, không đủ để đóng đinh một người. Nhưng đủ để khiến một người luôn đứng trong bóng tối phải lùi nửa bước ra ánh đèn.

Đúng lúc đó, điện thoại nội bộ của Hà Mẫn vang lên. Cô ta nghe chưa đầy ba câu, mặt đã trắng bệch. “Khu C nói thùng chuyển hủy đã rời giá lưu trữ nhưng chưa vào phòng hủy. Đang ở hành lang trung chuyển.” Tôi lập tức nói: “Khóa hành lang trung chuyển. Gửi camera trực tiếp lên màn hình này. Ai đã quẹt thẻ đưa thùng ra?” Hà Mẫn run tay gõ bàn phím. Trên màn hình, một khung hình xám hiện ra: một nhân viên mặc áo khoác kho lạnh đẩy thùng bảo ôn qua cửa C-3 lúc bảy giờ mười hai. Dòng log bên cạnh hiện tên người phê duyệt thao tác: tài khoản phụ của văn phòng quản trị gia tộc, mã T-GĐ-02.

Không ai trong Tạ gia có thể gọi đó là hiểu lầm nữa. Tôi ký yêu cầu bảo toàn chứng cứ trước mặt mọi người, Tần Dự ký xác nhận người chứng kiến, Lâm Tĩnh đóng dấu thời gian, Kỷ Sơ ghi lại toàn bộ quá trình. Cố Trầm Chu không nói thay tôi, chỉ đưa thêm một chiếc máy tính bảng để đội pháp lý Cố Tín đối chiếu mẫu văn bản khẩn cấp. Pháp chế An Thừa cuối cùng phải phát lệnh khóa khu C. Mười hai phút sau, thùng bảo ôn màu xám được đưa ngược về phòng kính, hai lớp khóa còn nguyên, nhưng tem ngoài đã có dấu bóc ở một góc rất nhỏ.

Tần Dự kiểm tra mã niêm phong bằng mắt thường rồi ngừng lại, giọng thấp đến mức gần như không nghe rõ: “Đây đúng là C-17.” Lâm Tĩnh yêu cầu không mở mẫu, chỉ lập biên bản tình trạng và niêm phong lại dưới ba bên. Khi nhân viên kho đọc mục lục kèm theo thùng, căn phòng lại im xuống. Dưới dòng “Hạ Lan Uyển – mẫu mẹ” và “trẻ nữ H.L.U – mẫu con”, còn có một dòng đối chứng song song bị gạch mờ bằng bút chì: “B-02, sản phụ Vương Nhã Lan, trẻ nữ chưa đặt tên, người nhận Đỗ Vĩnh An.”

Tôi nghe tiếng tim mình đập rất chậm. Vương Nhã Lan. Đỗ Vĩnh An. Trẻ nữ chưa đặt tên. Một đường dây khác nằm cạnh mẫu máu của mẹ con tôi suốt hai mươi bốn năm, như một cái bóng được nuôi lớn trong nhà họ Tạ rồi được gọi bằng hai chữ Minh Châu. Tạ Kính Hòa nhìn tôi, cuối cùng không còn nói “về nhà” nữa. Ông chỉ chỉnh lại cổ tay áo, giọng vẫn ôn hòa: “Vãn Ninh, có những sự thật không phải cứ đào lên là tốt cho cháu.” Tôi cầm bản mục lục mới được sao chụp, nhìn thẳng vào ông. “Vậy bác nên cầu nguyện nó không tốt cho tôi. Vì nếu nó tốt cho Tạ gia, tôi càng phải đào.”

Tần Dự đứng bên cạnh tôi, lặng lẽ cúi đầu. Lời chuộc lỗi của ông chưa thể trả lại hai mươi bốn năm bị đánh cắp, nhưng ít nhất trong buổi sáng này, nó đã kéo một giọt máu của mẹ tôi ra khỏi miệng lò hủy. Khi Lâm Tĩnh chuẩn bị niêm phong bản sao mục lục, điện thoại của Kỷ Sơ lại rung. Cô ấy nhìn màn hình, rồi đưa cho tôi xem một tin nhắn nặc danh vừa gửi đến hộp thư điều tra: “Muốn biết Tạ Minh Châu là ai, đừng tìm hồ sơ nhận nuôi. Hãy tìm phòng sinh số 2 cùng đêm đó.”