Bỏ qua nội dung

Vo Quy Ky

Chương 40: Không Đường Về

Chương 40: Không Đường Về

Câu nói của Tiêu Trọng rơi xuống, thư phòng như bị ai rút mất hơi người. Ngoài hiên, mưa vẫn gõ lên mái ngói, nhưng trong tai tôi chỉ còn tiếng máu chạy qua cổ tay nóng rát. Vì ở Đại Lương, cô càng yêu hắn, càng phải rời đi. Tôi từng nghe nhiều lời đe dọa hơn thế, từng bị ép nhận tội, từng bị đẩy vào yến tiệc nơi người ta dùng nụ cười để cắt da. Nhưng không câu nào khiến tôi thấy mình trống rỗng như câu này. Nó không dọa giết tôi. Nó chỉ nói rằng thứ tôi muốn giữ nhất sẽ trở thành lý do khiến tôi phải biến mất.

Hoài Trầm không lập tức nổi giận. Hắn chỉ nhìn Tiêu Trọng, ánh mắt tối đến mức ngọn đèn trên án cũng như thấp xuống. “Ông nói rõ.” Giọng hắn rất nhẹ, nhẹ đến đáng sợ. “Yêu nàng thì nàng phải rời đi, đó là quy tắc của sách, hay là lời ông dùng để ép nàng tiếp tục sửa sử?” Tiêu Trọng không tránh ánh mắt ấy. “Ta không cần ép cô ấy nữa. Sau khi biết những dòng bị đốt là thật, Nguyễn An Chi sẽ không thể bỏ mặc chúng.” Tôi siết tay, móng tay cắm vào lòng bàn tay. Ông nói đúng. Và chính vì đúng, tôi càng muốn tát đổ tất cả những gì đặt trên án.

“Đừng dùng sự hiểu biết của ông về ta để thay ta quyết định.” Tôi nói. Cổ họng đau như nuốt phải tro. “Ta không phải Tô Vãn Ninh thật, cũng không phải cây bút ông cắm vào bản sử này. Nếu Vô Quy Ký có quy tắc, nó cũng phải có kẽ hở. Sách do người viết, sử do người ghi, không có thứ gì sinh ra đã tuyệt đối.” Tiêu Trọng nhìn tôi thật lâu. Trong mắt ông thoáng qua một nỗi mệt cũ, giống người đã nhìn quá nhiều cánh cửa đóng lại trước mặt mình. “Kẽ hở nào cũng có giá.” “Vậy nói giá ra,” Hoài Trầm đáp, từng chữ gằn thấp, “đừng chỉ cầm nửa câu để dọa nàng.”

Tiêu Trọng im lặng. Sự im lặng ấy còn rõ hơn một lời từ chối. Tôi hiểu ông chưa muốn nói hết. Có lẽ ông sợ tôi nghe xong sẽ sụp, hoặc sợ Hoài Trầm nghe xong sẽ làm ra chuyện không thể thu. Nhưng chúng tôi đã đứng trong căn phòng này, trước nửa bản sổ cháy, trước mảnh da mang ký hiệu giống vết mực trên tay tôi. Không ai còn có đường quay lại lúc chưa biết gì. Tôi hít một hơi, ép mình nhìn thẳng vào hộp gỗ. “Đưa Vô Quy Ký cho ta xem.”

A Tự khẽ gọi: “Tiểu thư…” Giọng con bé run đến tội nghiệp. Tôi quay đầu nhìn nó. “Từ giờ, không ai trong phủ được biết cuộc nói chuyện này. Cố Tử Khiêm phải được canh giữ kỹ hơn. Nửa bản sổ, bản chép tay, dấu tư kho vận Hứa gia, tất cả phải tách nơi cất. Nếu Hứa gia động thủ, chúng ta không thể để một mồi lửa đốt sạch mọi thứ.” A Tự vừa khóc vừa gật. Nó không hiểu hết Vô Quy Ký là gì, nhưng nó hiểu chữ ‘mất’ đáng sợ đến mức nào.

Tiêu Trọng mở hộp gỗ lần nữa. Ông không chỉ lấy ra mảnh da cháy, mà còn đặt lên án một tập giấy mỏng bọc trong vải dầu. Những tờ giấy ấy rời rạc, mép xém đen, ở giữa có những hàng chữ chỗ hiện chỗ mất, như thể mực từng sống rồi lại bị bóp nghẹt. Trên trang đầu, ba chữ Vô Quy Ký chìm dưới lớp ám khói. Vừa nhìn thấy chúng, vết mực trên cổ tay tôi nóng lên dữ dội. Tôi lảo đảo, Hoài Trầm lập tức đỡ lấy khuỷu tay tôi, đặt tay giữa tôi và tập giấy như muốn chắn một thứ vô hình.

“Đừng chạm.” Tiêu Trọng nói. “Mỗi lần cô chạm vào bản chính, sách sẽ nhận ra người đọc.” Tôi bật cười khẽ. “Nó đã nhận ra ta từ lâu rồi.” Tôi kéo lớp băng ở cổ tay xuống. Vết mực đen nằm dưới da, không còn giống một vết bẩn. Nó giống một dòng chữ chưa viết xong, đầu nét lan về phía mạch máu. Hoài Trầm nhìn thấy, bàn tay hắn khựng lại. Trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi thấy thứ gì đó trong mắt hắn vỡ ra, nhưng hắn chỉ nói: “Đau không?” Tôi muốn nói không. Câu nói ấy đã lên đến đầu lưỡi, rồi lại bị sự thật kéo xuống. “Đau.”

Hắn gật đầu, như thể đã nhận một mệnh lệnh. Sau đó hắn rút dao găm bên hông. Lưỡi dao mỏng bắt sáng lạnh dưới ngọn đèn. A Tự hoảng hốt bước lên, Tiêu Trọng cũng biến sắc. Nhưng Hoài Trầm không hướng dao về ai. Hắn đặt mũi dao lên mép tập giấy cháy. “Nếu sách nhận ra nàng, ta cắt đường nó nhận.” Tiêu Trọng quát khẽ: “Lục Hoài Trầm!” Hắn không nhìn ông. “Ta không cần một bản sử lấy nàng làm giá.”

Mũi dao vừa rạch vào mép giấy, ngọn đèn trên án bỗng phụt thấp. Không có gió, nhưng nửa bản sổ cháy cạnh đó tự động rung lên. Dòng chữ tôi vất vả phục lại về sớ xin mở kho đối chứng mờ đi như bị nước thấm. Trên bản chép tay, nét mực cũng nhòe ra ở đúng những chữ quan trọng nhất: Lục Trường Uyên, kho lương Bắc, Hứa thị. A Tự bật khóc thành tiếng. Tôi lao tới giữ cổ tay Hoài Trầm. “Dừng lại!” Lưỡi dao chỉ cắt một vệt nhỏ, nhưng mùi giấy cháy đã bốc lên rõ rệt, ngai ngái và lạnh.

Hoài Trầm dừng tay ngay. Hắn nhìn những dòng mực đang nhạt đi, sắc mặt trắng bệch. Tiêu Trọng nhắm mắt, giọng khàn đi lần đầu tiên. “Ta đã nói, người trong sử không thể phá sách mà vẫn giữ sử. Vô Quy Ký không chỉ ghi chứng cứ. Nó là nơi những chứng cứ đã được nối lại bám vào trước khi trở về bản chính. Hủy nó lúc này, những gì cô phục lại sẽ mất theo.” Tôi buông cổ tay Hoài Trầm, rồi vội áp tay lên nửa bản sổ như muốn giữ mực khỏi trôi. Vết mực trên da tôi nóng đến mức nước mắt trào ra, nhưng dòng chữ kia chậm rãi đậm lại. Chậm, rất chậm, như người sắp chết được kéo về một hơi thở.

Trong giây phút ấy, tôi hiểu lựa chọn tàn nhẫn nhất không phải là trở về hay ở lại, mà là mọi con đường đều lót bằng tên người khác. Nếu phá sách, tôi có thể cắt một sợi dây đang kéo mình đi, nhưng Lục Trường Uyên sẽ tiếp tục mang tội phản quốc, Cố Tử Khiêm không còn gì để chứng minh vô tội, Tô Vãn Ninh thật sẽ chết lần thứ hai trong im lặng. Nếu giữ sách, tôi giữ được công bằng cho họ, đồng thời bước gần hơn đến cánh cửa mình không muốn qua. Tôi ngẩng đầu nhìn Hoài Trầm. “Không được phá.”

Hắn nhìn tôi, trong mắt có giận, có đau, có cả bất lực mà hắn chưa từng để ai thấy rõ đến vậy. “Nàng muốn ta đứng yên nhìn nó lấy nàng đi?” “Ta muốn chàng sống trong một đoạn sử không còn bị người ta bẻ gãy.” Tôi đáp. Giọng tôi run, nhưng tôi không tránh mắt hắn. “Ta cũng muốn ở lại. Ta muốn đến mức vừa rồi, khi chàng đặt dao xuống, ta đã có một khoảnh khắc hy vọng. Nhưng nếu cái giá là để tất cả những người đã chết vì sự thật bị xóa thêm lần nữa, ta không làm được.” Hoài Trầm cười rất khẽ, nụ cười không có chút vui nào. “Nàng luôn chọn phần đau hơn.” “Không.” Tôi nói. “Ta chỉ không muốn biến tình yêu thành lý do khiến chúng ta trở thành người mình căm ghét.”

Tiêu Trọng cúi mắt xuống, như bị câu ấy đâm trúng. Một lúc sau ông nói: “Vậy cô định phản kháng bằng cách nào?” Tôi nhìn tập giấy cháy, rồi nhìn những bản chép trên án. Tuyệt vọng vẫn nằm dưới xương sườn như một viên đá lạnh, nhưng tuyệt vọng không đồng nghĩa với buông tay. “Không phá sách. Không để sách một mình giữ chứng cứ.” Tôi nói. “Từ hôm nay, mọi dòng được phục lại phải có vật chứng thật, lời khai thật, người sống thật đối chiếu. Nếu Vô Quy Ký muốn dùng ta như cây bút, ta sẽ bắt nó viết trên giấy mà người đời này đọc được.”

Hoài Trầm nhìn tôi rất lâu. Rồi hắn thu dao về vỏ. Âm thanh kim loại khép lại nghe khô khốc, như một lời thề bị nuốt xuống. “Ta sẽ cho người đổi nơi giam Cố Tử Khiêm trong đêm nay.” Hắn nói. “Tử sĩ Hứa gia không vào được phủ tướng quân, nhưng người trong triều có thể dùng lệnh khám xét. Chứng cứ chia làm ba phần: một phần ở chỗ nàng, một phần đưa đến chỗ Thẩm Như Sơ, một phần ta cất trong doanh vệ cũ của phụ thân.” Tiêu Trọng ngước mắt. “Doanh vệ Lục gia đã bị giải tán.” Hoài Trầm đáp: “Người giải tán là triều đình. Người còn nhớ ân Lục gia thì chưa.”

Tôi nghe hắn nói mà lòng vừa ấm vừa đau. Chúng tôi vẫn đang làm việc quen thuộc: giấu chứng cứ, phân đường, phòng Hứa gia ra tay. Chỉ khác là từ giây phút này, mỗi việc đúng đắn đều có thêm một cái bóng phía sau. Tôi không còn chỉ chạy đua với Hứa gia, mà còn với một năm đang ngắn lại, với vết mực đang đi sâu vào da, với tình yêu càng rõ thì đường lui càng hẹp. A Tự lau nước mắt, ôm bản chép tay vào lòng. “Tiểu thư, nô tỳ đi ngay.” Tôi giữ tay nó lại. “Không đi một mình. Gọi Lâm hộ vệ đi cùng.”

A Tự vừa rời khỏi cửa, ngoài sân bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập. Không phải bước chân của nha hoàn, cũng không phải nhịp điềm tĩnh của hộ vệ trong phủ. Đó là tiếng người chạy qua mưa, gấp đến mức suýt trượt trên nền đá. Hoài Trầm lập tức quay đầu. Một thân binh áo giáp ướt sũng quỳ xuống ngoài ngưỡng cửa, nước mưa và bùn đất nhỏ thành vệt dài dưới chân hắn. Trên tay hắn là ống thư quân báo niêm sáp đỏ, mép sáp đã nứt vì bị siết quá chặt. “Tướng quân!” Người kia thở dốc, giọng khản đặc. “Biên Bắc cấp báo. Tuyến lương bị tập kích, ba kho tiền tiêu đồng loạt cháy. Trong quân có lệnh điều sai đường, dấu ấn trên công văn… là dấu của Hứa thị.”

Cả căn phòng lặng đi. Tôi nhìn ống thư đỏ trong tay thân binh, rồi nhìn những dòng mực vừa kịp đậm lại trên án. Hóa ra không cần chúng tôi đi tìm đường cuối cùng; nó đã tự mở ra dưới mưa, đầy bùn, đầy máu và mùi lửa. Hoài Trầm nhận quân báo, ngón tay siết mạnh đến mức khớp xương nổi trắng. Khi hắn ngẩng đầu, ánh mắt ấy đã là ánh mắt của tướng quân bị buộc trở lại chiến trường nơi phụ thân từng bị bôi nhọ. Tôi bỗng hiểu tên chương đời mình vừa bước sang nghĩa nào. Không đường về, không phải vì cửa hiện đại đã khép. Mà vì từ giây phút Biên Bắc báo nguy, chúng tôi không còn đường lui.