Bỏ qua nội dung

Chương 86: Bút Giết Người

Từ Kính vừa dứt câu, Kỷ Hòa không cúi đầu. Nàng vẫn ngồi trên chiếc ghế trước bàn lấy lời khai, đầu ngón tay còn vương một quầng son đỏ đã khô. Cả công đường chờ Lục Thanh trả lời thay nàng, nhưng Thanh chỉ nhìn bản sao hộ tịch trên bàn. “Xin quan chủ thẩm ghi nguyên câu hỏi của Từ đại nhân vào biên bản.” Từ Kính hơi nhướng mày. Thanh nói tiếp: “Và ghi rõ câu hỏi được đặt ra sau khi nhân chứng đã khai độc lập, sau khi điểm chỉ, không phải trước.” Văn lại nhìn quan chủ thẩm. Ông im một nhịp rồi gật đầu. Tiếng bút sột soạt vang lên. Thanh lúc ấy mới ngẩng mắt. “Từ đại nhân hỏi một người đã chết trên giấy lấy tư cách gì làm chứng. Ta xin hỏi trước một việc khác: giấy dựa vào đâu để nói nàng đã chết?”

“Hồ sơ báo tử của Vĩnh An Hầu phủ.” Từ Kính đáp. “Có người lập, người nhận, người chuyển sổ, dấu đều đủ.” Thanh không đưa tay lấy giấy. Nàng đang bị đình chức; nàng chỉ có thể đề nghị người có quyền đối chiếu. “Xin mở hồ sơ vụ thi thể Hầu phủ năm ấy.” Quan chủ thẩm ra hiệu. Bản báo tử được đặt bên trái, bản nghiệm ban đầu đặt bên phải. Giữa hai tờ giấy là dấu tay đỏ của một người vẫn đang thở.

Thanh đọc theo mục văn lại mở. “Bản báo tử ghi người chết là Kỷ Hòa. Căn cứ nhận dạng là áo mặc, tên trong sổ người hầu và lời xác nhận của quản sự. Không có thân nhân nhận xác, cũng không có dấu riêng trên thân thể được đối với người thật.” Từ Kính nói: “Một thị nữ nội viện, dùng sổ phủ để nhận người là thường lệ.” Thanh gật. “Đúng. Vì thường lệ nên mới dễ dùng.”

Nàng xin văn lại đọc phần số đo trong bản nghiệm cũ, rồi đọc số đo áo trong bản sao sổ may đã được thu vào án quyển từ vụ Hầu phủ. Hai con số không khớp. Sai lệch ấy từng là một trong những căn cứ khiến kết luận tự vẫn bị lật. Kỷ Hòa nghe đến đó, hai tay siết lại trên đầu gối. Thanh không quay sang trấn an. Nàng chỉ nói với quan chủ thẩm: “Vụ án đã ghi rõ thi thể không thể được xác nhận chỉ bằng bộ áo. Nhưng bản hộ tịch Từ đại nhân mang tới vẫn giữ nguyên cái chết của Kỷ Hòa.” Quan chủ thẩm cầm bản sao lên. “Ngày chuyển tử tịch ở đây là sau ngày nha môn lập biên bản nghi vấn thân phận thi thể.” Không khí trong phòng lập tức chùng xuống.

Từ Kính không hề lúng túng. “Nghi vấn không phải phán quyết đổi hộ tịch. Hầu phủ đã báo tử, hộ phòng đã nhận, thủ tục chưa có văn thư hoàn nguyên thì sổ đương nhiên giữ nguyên. Chẳng lẽ chỉ vì một ngỗ tác nói số đo không khớp, triều đình phải xóa một cái chết đã nhập sổ?” “Không.” Thanh nói. “Nhưng từ lúc có nghi vấn chính thức, mọi người tiếp tục chuyền cùng một cái tên qua từng cửa mà không ai đối lại người chết là ai. Đó không còn là nhận nhầm trong một đêm. Đó là biến nhận nhầm thành sự thật hợp lệ.” Từ Kính đáp: “Hợp lệ không phải tội.” “Ta chưa nói đó là tội của riêng ai.” Thanh nhìn thẳng ông. “Ta đang chỉ ra nó giết người thế nào.”

Kỷ Hòa bỗng lên tiếng. Giọng nàng nhỏ, nhưng trong gian phòng yên đến mức không ai nghe sót. “Nếu sổ nói ta chết, vậy người nằm trong quan tài năm ấy là ai?” Từ Kính quay sang nàng. “Đó là việc nha môn phải tra.” “Nhưng khi chưa tra ra, các ngài đã lấy tên ta đặt lên nàng ấy.” Kỷ Hòa nói. Mặt nàng tái đi vì chính câu mình vừa thốt ra, nhưng chân không lùi, lưng cũng không co lại. “Tên ta chết rồi. Tên nàng ấy cũng mất. Vậy một nét bút đã xóa hai người.” Mạnh Nương ở phía sau khẽ khép mắt. Thẩm Dao vẫn đứng im nơi hành lang, chỉ có bàn tay đặt trước người siết chặt hơn một chút.

Thanh quay lại bàn án. “Xin lấy thêm ba vật chứng đã niêm trong đại án.” Văn lại đặt ra bản nghiệm từng bị sửa, danh sách duyệt tư cách khoa cử có bút son Hình bộ và trang đối chiếu sổ tang Mạnh Nương giao. Thanh chỉ yêu cầu đọc những chỗ đã xác minh: một cái chết có dấu cưỡng ép bị đổi thành “tự vẫn”; một thân phận bất thường vẫn được duyệt; một ngày “chết” nằm trước lần cuối người ấy còn được nhìn thấy khi sống. Ba vụ khác nhau, nhưng chỗ biến nghi vấn thành điều được công nhận đều chạm tuyến phê son Hình bộ.

Từ Kính cười nhạt. “Lục ngỗ tác gom những việc khác nhau lên một bàn rồi gọi đó là một con dao?” “Không.” Thanh nói. “Dao để lại vết trên thịt. Thứ này để lại vết trên quyền được sống.” Nàng chỉ vào từng tờ, không chạm tay. “Sửa tên: một thi thể mang tên Kỷ Hòa, người sống bị chuyển sang tử tịch. Sửa án: dấu vết không khớp tự vẫn, nhưng kết luận cuối vẫn có thể bị viết lại nếu người có quyền nhận bản sửa. Sửa ngày chết: một ngày trên giấy được chọn sao cho việc chuyển người, chôn tên và khóa hộ tịch khớp với nhau. Sau đó mọi cửa sau chỉ cần nói: ta làm theo hồ sơ trước.” Quan chủ thẩm không ngắt lời. Hai văn lại cũng đã ngừng lật giấy.

“Và Từ đại nhân,” Thanh nói, “điều đáng sợ nhất không phải một chữ ký giả.” Ánh mắt Từ Kính lạnh đi rất ít. “Vậy là gì?” “Là chữ ký thật.” Thanh đáp. “Người báo tử ký thật. Người nhận sổ ký thật. Người chuyển mục ký thật. Người đóng dấu cũng dùng ấn thật. Mỗi người chỉ làm một đoạn, không ai cần cầm dây siết cổ, không ai cần nhìn mặt người bị xóa tên. Đến cuối cùng, người sống đứng trước công đường lại phải chứng minh mình sống, còn tờ giấy thì không phải chứng minh vì sao nó có quyền giết nàng.”

Đỗ Mạnh ở gian bên chống tay ngồi thẳng hơn nhưng bị Tang Ngọc giữ lại. Từ Kính nói: “Luật không xử một ý niệm. Muốn buộc tội, phải có người, có hành vi, có lệnh, có chứng.” “Đúng.” Thanh đáp. “Ta không yêu cầu ghi rằng Từ Kính tự tay viết chữ ‘tử’ cạnh tên Kỷ Hòa, cũng không lấy lời nàng làm chứng cho điều nàng chưa thấy. Ta chỉ yêu cầu ghi điều hồ sơ đã đủ sức chịu: trong nhiều vụ, cái chết pháp lý được tạo bằng chuỗi giấy tờ hợp lệ bề ngoài, và điểm chuyển quan trọng đều đi qua tuyến phê duyệt Hình bộ.”

Từ Kính nói: “Hình bộ có hàng trăm người.” “Vậy càng nên tra.” Thanh đáp. “Ai nhận hồ sơ, ai phê ngoại lệ, ai cho phép không đối thân phận, ai giữ bản sửa, ai được lợi từ việc người sống biến thành người chết. Không thể vì nhiều người cùng đặt bút mà không còn ai chịu trách nhiệm.” Nàng nhìn nét son cạnh chữ “tử” trên bản hộ tịch Kỷ Hòa. “Một cái chết bằng dao thường chỉ cần tìm bàn tay cầm dao. Cái chết bằng bút phải tìm cả con đường khiến nét bút ấy có hiệu lực.”

Quan chủ thẩm đặt bản hộ tịch xuống. “Lời khai Kỷ Hòa không bị xóa khỏi biên bản. Tư cách thân phận của nàng ghi là đang tranh chấp, chờ đối chiếu nguyên sổ và hồ sơ báo tử gốc.” Từ Kính nghiêng đầu. “Đại nhân định để một người không có hộ tịch sống hợp lệ tiếp tục làm nhân chứng?” “Ta định giữ nguyên lời người đã khai trước khi tranh chấp được giải quyết.” Quan chủ thẩm đáp. Giọng ông không lớn, nhưng lần này không nhìn Thanh để tìm đường lui. “Nếu sau này chứng minh nàng giả mạo, lời khai chịu hậu quả theo luật. Nếu chứng minh hộ tịch sai, xóa lời khai hôm nay mới là sai không thể sửa.”

Kỷ Hòa thở ra chậm. Dấu tay nàng vẫn nằm dưới hai chữ tên thật. Người chết không thể đứng lên cãi một dòng mực; Kỷ Hòa có thể. Bởi vậy tờ hộ tịch kia chỉ mạnh khi mọi người tin lời của giấy trước lời của người.

“Được.” Từ Kính nói. “Nếu nha môn muốn tra, Hình bộ không cản.” Thuộc quan đi cùng ông lập tức đặt thêm một tờ công văn lên bàn. Lần này quan chủ thẩm vừa nhìn con dấu đã cau mày. Từ Kính tiếp tục bằng giọng ôn hòa: “Nhưng theo thủ tục kiểm thân khi hộ tịch có tranh chấp, những người dùng tên đã bị báo tử phải được đưa tới Hình bộ đối nguyên sổ. Kỷ Hòa là người đầu tiên. Giờ Thìn, người của ta sẽ tới nhận.” Mạnh Nương bật đứng dậy nửa chừng rồi dừng lại. Đỗ Mạnh chửi rất khẽ trong cổ họng. Thẩm Dao bước lên một bước, nhưng không dùng danh phận cũ để nói.

Quan chủ thẩm đọc hết công văn. Dấu thật, số văn thật, điều khoản cũng không thể gạt đi bằng một câu. Từ Kính không cần cướp nhân chứng; ông chỉ cần một tờ giấy khác. Bút không chỉ giết người ở cuối vụ án. Nó còn có thể đưa người sống trở lại đúng nơi họ sợ nhất với lý do hoàn toàn sạch sẽ.

Ngoài sân, trời đã sáng hẳn. Tiếng người ngoài phố bắt đầu dày lên sau cánh cổng nha môn. Nếu đợi đến giờ Thìn, Kỷ Hòa sẽ phải rời khỏi nơi bảo hộ theo một lệnh có đủ dấu. Thanh không có quyền giữ nàng bằng tay. Nàng quay sang quan chủ thẩm. “Trước giờ Thìn, nhân chứng vẫn thuộc sự bảo hộ của án này.” Ông hiểu ngay. Ánh mắt ông quét qua những tờ giấy, qua Kỷ Hòa, qua Từ Kính đang đứng rất thẳng dưới bảng công đường. Rồi ông nói với bộ khoái trực cổng: “Đóng cổng.” Người kia sững lại. “Đại nhân?” “Đóng cổng. Không cho người không phận sự vào. Không nhân chứng nào rời nha môn.” Ông nhìn văn lại. “Thắp đèn công đường.”

Từ Kính cuối cùng không cười nữa. Quan chủ thẩm đặt tay lên chồng biên bản còn ấm mực. “Nếu ban ngày có người muốn dùng thủ tục để mang nhân chứng đi,” ông nói, “thì đêm nay chúng ta lấy cho xong những lời cần lấy.” Ngoài hiên, một chiếc đèn dầu được châm lên dù trời đã sáng. Ngọn lửa nhỏ nghiêng trong gió, hắt bóng cây bút son trên bàn thành một vệt dài như lưỡi dao.