Chương 332: Người Mang Cốt - Vé Vào Thiên Lộc
Chuông thứ hai còn ngân trên mái Đông Hành Lang khi Tạ Huyền rời Phòng Độc Chứng. Hắn không quay lại hỏi thêm về hộp cựu ấn. Kiểm Ấn Phòng đã nhận việc, mã khai phong có hay không trong nhật ký cũng không thể làm A Mộc thở thêm một nhịp. Chẩn phiếu trong tay trái bị hắn nắm đến nhăn mép. Tay phải vẫn buông gần như vô lực, đầu gối trái cứng lại sau mỗi đoạn hành lang, nhưng hắn vẫn đi thẳng về dãy đông. Dược Đường Thiên Lộc nằm sau hai lớp sân trồng dược, mùi lá phơi và nước sắc đậm đến mức che cả mùi sương sáng. Bàn cứu trị ngoại danh chỉ có một quầy đá dài và tấm bảng ghi rõ thứ tự: chẩn phiếu, tình trạng vận chuyển, người bảo trách, tiền hoặc công khế.
Người trực bàn là một nữ dược sư tuổi trung niên. Bà đọc chẩn phiếu của Tế Mạch Đường hai lần, đối dấu rồi dừng ở dòng cuối. “Chưa thích hợp vận chuyển trước lần đối sáng.” Bà gõ nhẹ đầu bút lên giấy. “Phiếu này lập từ canh hai. Hiện tại đã sang sáng. Ta không thể dựa vào một câu ‘đêm qua giữ được’ để cho xe dược tới kéo người.” Tạ Huyền hỏi: “Có thể phái người tới đối sáng tại chỗ không?” Dược Đường có ngoại chẩn, mang theo pháp bàn phân mạch loại nhỏ; nếu người bệnh chưa thể chuyển, y sư sẽ tới tận nơi xác định có đủ điều kiện chuyển hay phải xử lý tại chỗ trước. Nhưng ngoại chẩn, pháp bàn và xe ổn mạch đều có giá riêng.
“Người bảo trách?” bà hỏi. “Tạ Huyền.” “Bài đệ tử?” “Chưa có.” Hắn đặt Hậu Tuyển Bài cạnh chẩn phiếu. “Độc Chứng vừa hoàn tất.” Nữ dược sư kiểm dấu “Độc Chứng hoàn tất – chờ hậu tuyển”, rồi nhìn mặt có “Mạch Kính bảo lưu”. “Hậu tuyển có thể ký công khế tạm, nhưng phải đối được thân trạng. Nếu cuối cùng không nhập viện, khế chuyển thành nợ lao dịch theo giá ngoài viện.” Bà đưa một bản mẫu. Tạ Huyền không hỏi có thể miễn hay không. Số tiền đặt trước đủ để hắn hiểu phần bạc còn lại trên người không có ý nghĩa gì. Hắn đọc công khế từ đầu tới cuối. Người bệnh là người thụ hưởng, hắn chỉ chịu nghĩa vụ thanh toán; Dược Đường không được vì khế đã ký mà tự đổi phương án y trị. “Nếu tới xem rồi từ chối nhận?” hắn hỏi. “Phần đã dùng tính, phần chưa dùng không tính.” “Nếu Tế Mạch xác nhận nàng chưa thể chuyển?” “Y sư hai bên ghi chung. Không ai được kéo người đi.” Tạ Huyền gật đầu. “Ta ký đường này.”
Muốn lập công khế tạm, bàn cứu trị phải lấy mạch ấn để truy đúng người chịu nợ. Tạ Huyền khai trước thương tích ở hai tay và mạch ba-bốn. Nữ dược sư ghi vào mép phiếu rồi chỉ một phiến đồng đen rộng bằng bàn tay. “Chỉ đối ngoại tức một nhịp thở. Không nhập nội mạch, không truy huyết, không dẫn linh vào người.” Hắn yêu cầu câu ấy được ghi vào biên nhận. Bà thêm một dòng rồi đóng dấu. Tạ Huyền mới đặt bàn tay trái lên phiến đồng.
Vòng ngoài sáng lên trước, đúng như một mạch ấn bình thường. Nhưng ánh sáng vừa tới cổ tay thì tắt hụt. Từ dưới gốc ngón cái hiện ra một đường trắng mảnh, không chạy theo mạch nổi mà bám sát đường xương, lướt qua cổ tay rồi dừng ở mép phiến. Nữ dược sư lập tức nhấc tay khỏi khóa ấn. “Rút tay.” Tạ Huyền làm theo. Ánh ngoại tức tắt ngay, nhưng đường trắng sát xương vẫn còn một nhịp mới mờ đi. Không ai bắt hắn thử lần thứ hai. Nữ dược sư úp nắp gỗ lên phiến, treo thẻ “tạm dừng” rồi gọi người từ gian trong.
Người tới là một lão dược sư áo xám, cổ tay đeo ba vòng gỗ mùi thuốc. Ông đọc phần khai thương, phạm vi mạch ấn và bản lưu mặt đồng. “Ngoại tức rút, cốt đáp còn lưu. Trong Dược Đường, hiện tượng này có một tên cũ: người mang cốt.” Ngón tay trái của Tạ Huyền co nhẹ dưới băng. “Tên đó kết luận được gì?” “Chỉ rằng xương của ngươi có một đáp ứng linh tính tương đối độc lập với ngoại mạch trong phép đối vừa rồi.” Lão dược sư đáp. “Không kết luận là cốt gì, từ đâu, thuộc huyết mạch nào, càng không chứng minh liên quan tới Mạch Kính hay hồ sơ khác.” “Vậy công khế?” “Mạch ấn thường không đủ tin cậy. Bàn này không được tự đóng.”
Khoảng cách nửa thành giữa Dược Đường và Tế Mạch Đường bỗng nặng hơn cả đầu gối đang đau. Tạ Huyền hỏi ngay: “Có đường khác hợp lệ không?” Lão dược sư lấy một bảng giá khác. Dược Đường có mục quan trắc cốt trạng dành cho những trường hợp ngoại cốt biểu hiện hiếm; người được quan trắc nhận khấu trừ theo mức. Mức một chỉ quan sát ngoại ứng, không lấy máu, không lấy cốt dịch, không châm nhập mạch, tối đa mười nhịp thở. Hai mức sau mới đi sâu hơn. “Bao nhiêu cho mức một?” “Đủ ngoại chẩn, pháp bàn mang đi và phần đặt trước cho một lượt ổn mạch nếu người bệnh đủ điều kiện chuyển. Không đủ trị sâu, không xóa nợ cũ.”
“Ta chỉ nhận mức một.” Tạ Huyền nói. “Không lấy mẫu. Không vào nội mạch. Không tự mở rộng sang truy huyết hoặc xác định nguồn cốt. Nếu thương mạch tăng, dừng ngay. Muốn lặp phải hỏi lại.” Lão dược sư xoay mẫu khế về phía người ghi. “Đều nằm trong giới hạn mức một. Ghi rõ.” Một bên cần một trường hợp cốt trạng hiếm để ghi nhận, một bên cần một lượt ngoại chẩn cho người đang bất tỉnh. Giá trị trao đổi được viết ra, cái gì không được phép cũng được viết ra. Khi dấu cuối cùng đóng xuống, hai người mang hòm pháp bàn lập tức rời dãy đông cùng bản sao chẩn phiếu. Tạ Huyền viết một mảnh giấy gửi Cố Dã: “Dược Đường tới đối sáng. Chưa có hai bên cùng ký thì không chuyển.”
Hắn ở lại vì quan trắc phải hoàn tất trước khi khoản khấu trừ có hiệu lực. Một giá đồng hình cung được đặt trên cẳng tay trái, cách lớp băng hơn một đốt ngón; ba phiến ngọc mỏng chỉ nhận khí tản ra ngoài. Lão dược sư đọc lại phạm vi rồi mới bắt đầu. Nhịp thứ nhất chỉ có ngoại tức yếu vì thương. Nhịp thứ ba, phiến ngọc gần cổ tay hiện một vệt trắng. Nhịp thứ năm, vệt ấy đi ngược hướng ngoại mạch rồi dừng ở vị trí mạch ba-bốn đang nóng đau. Tạ Huyền không vận Huyền Cốt Quy Tức, không dùng Quan Linh Tâm Nhãn, cũng không ép phản ứng theo ý mình. Hắn chỉ báo mức đau tăng từ âm ỉ thành nhói.
Đến nhịp thứ bảy, lão dược sư tự nâng giá đồng lên. Vệt sáng ngoài mạch tắt. Một nhịp sau, phiến ngọc giữa vẫn lóe lại rất mỏng rồi mới tối hẳn. Ông không làm đủ mười nhịp, cũng không yêu cầu lặp. Người ghi chép viết: “Cốt tức ngoại hiển; ngoại nguồn dừng sau khi khí cụ rời; còn hồi ứng một nhịp; loại chưa định. Quan trắc dừng sớm do thương mạch tăng đau.” Tạ Huyền đọc toàn bộ rồi mới ký. Ở dòng phân loại tạm, ba chữ “người mang cốt” nằm im như một cái tên hắn chưa từng tự nhận.
“Việc này ảnh hưởng hậu tuyển?” hắn hỏi. “Ta không quyết hậu tuyển.” Lão dược sư đáp. “Nhưng dự tuyển có cốt tức độc lập thì Dược Đường phải báo Hậu Tuyển Phòng để họ biết mạch ấn thường có thể sai. Báo không đồng nghĩa loại, cũng không đồng nghĩa nhận. Bên đó muốn kiểm gì phải lập phạm vi riêng.”
Ngoài cửa vang lên tiếng chân gấp. Một tiểu dược đồng mang thẻ Tế Mạch Đường trở về, trán lấm mồ hôi. Y sư Dược Đường đã đối sáng cùng người trực Tế Mạch. A Mộc vẫn bất tỉnh, nhiệt trong kinh cốt chưa rút, nhưng mạch ngoại giữ được sau đêm và hiện chưa tái tách nóng – lạnh. Pháp bàn phân mạch cho thấy nếu muốn chuyển phải làm thêm một lượt ổn mạch tại chỗ rồi dùng xe dược giảm xóc; nếu lượt đó giữ được, có thể đưa nàng tới Dược Đường trong một khoảng ngắn trước chuông thứ tư. Dược Đường đã nhận ca ở mức ngoại chẩn, chưa nhận điều trị tận gốc và chưa hứa kết quả.
Tạ Huyền thở ra chậm. Đây không phải A Mộc được cứu. Chỉ là một cánh cửa đủ rộng để cáng đi qua mà chưa tự tay đóng mất đường sống của nàng. Hắn vừa chống cán gỗ đứng lên thì một thư lại từ Hậu Tuyển Phòng đã tới. Người kia đối Hậu Tuyển Bài, nhận bản quan trắc rồi đóng thêm một dấu nhỏ dưới dòng “Độc Chứng hoàn tất”. Bốn chữ mới hiện ra: “Cốt trạng – chờ bổ đối.”
“Trước chuông thứ tư, tới Cốt Luận Phòng nhận phạm vi bổ đối.” Thư lại nói. “Không phải kiểm huyết, không phải định nguồn. Chỉ xử lý việc cốt tức làm mạch ấn thông thường mất độ tin cậy. Quá giờ mà không nhận phiếu, hậu tuyển tiếp tục treo.” Cùng lúc đó, tiểu dược đồng đặt lên bàn một thẻ xe có đúng cùng mốc. Nếu lượt ổn mạch giữ được, A Mộc phải chuyển trước chuông thứ tư.
Tạ Huyền nhìn hai tờ giấy nằm cạnh nhau. Một tờ là đường đưa A Mộc vào nơi có thể chữa sâu hơn. Một tờ là bước mới trên con đường vào Thiên Lộc, sinh ra chỉ vì học viện vừa nhìn thấy một phần thứ nằm trong xương hắn. Hậu Tuyển Bài vẫn chưa phải bài đệ tử. Nhưng từ sáng nay, trên hồ sơ của Thiên Lộc đã có một cách gọi mới dành cho hắn. Người mang cốt.
