Bỏ qua nội dung

Ho So Chua Dong

Chương 67 - Chương 67: Nhân Chứng Được Bảo Vệ

Chương 67: Nhân Chứng Được Bảo Vệ

Yêu cầu đầu tiên bị chặn bởi cơ chế hai người phê chuẩn xuất hiện lúc 3 giờ 08 phút. Nó không hỏi tên Hạ Uyên hay địa chỉ điểm bảo vệ, chỉ xin bảng tình trạng camera của các cơ sở đang tiếp nhận nhân chứng cần hỗ trợ y tế. Nếu được duyệt, bảng ấy sẽ trả về mã thiết bị và đơn vị trực. Tống Nghi giữ nguyên cửa sổ yêu cầu trên máy tách mạng, không bấm từ chối, vì một lệnh bị từ chối vẫn có thể làm mất dấu hàng đợi ban đầu. Quân bảo cô chụp màn hình bằng máy độc lập, niêm thời gian rồi khóa quyền thực thi. Hai chữ ký chưa đủ hiện ở cuối dòng màu xám. Quy tắc mới đã giữ cánh cửa đóng lại trước khi người phía bên kia biết nó đổi khóa.

Quân không đánh thức Hạ Uyên để báo một nguy cơ chưa thành hình. Anh yêu cầu tổ trực kiểm khóa cơ, đối chiếu sổ viết tay và tuần tra quanh tòa nhà bằng hai người không dùng bộ đàm. Camera hành lang vẫn ghi tại chỗ; đường truyền từ xa bị ngắt, một thiết bị dùng thẻ nhớ mới được đặt nhìn cửa nhưng không nhìn vào giường. Không có dấu chân lạ, xe dừng lâu hay ca trực sai lịch. Chưa có căn cứ di chuyển nhân chứng. Quân ghi quyết định cùng lý do: không thể coi nơi này an toàn chỉ vì chưa xảy ra chuyện, nhưng cũng không thể bỏ nó chỉ vì có người thử chạm vào dữ liệu.

Gần sáng, Hạ Uyên tỉnh dậy khi người trực đổi bình nước. Cô buông tay An Nhiên trước, nhìn quanh phòng rồi tự kéo chăn xuống khỏi đầu gối. An Nhiên vẫn ngồi cạnh giường, vai cố định bằng đai mềm, sắc mặt nhợt hơn đêm trước. Trên bàn thấp là một tập giấy chưa mở, được đặt xa thiết bị ghi âm đã niêm. Hạ Uyên nhìn tập giấy, nhịp thở chậm lại một cách cố ý. “Đó là gì?” cô hỏi. Quân đứng ngoài vạch cửa như lần trước. “Hồ sơ đề nghị bảo vệ nhân chứng chính thức. Chưa có chữ ký của cô thì chưa có hiệu lực.” Hạ Uyên nhìn anh. “Nếu tôi không ký?” “Điểm bảo vệ tạm thời vẫn giữ đến khi nguy cơ được đánh giá lại. Cô không mất quyền an toàn vì chưa quyết định.”

Cán bộ phụ trách bảo vệ nhân chứng đọc từng mục thay vì đẩy tập giấy về phía cô. Danh tính thật không đi vào lịch trực. Việc khám y tế dùng mã riêng, không đồng bộ nếu chưa được đồng ý. Mọi yêu cầu di chuyển cần hai phê chuẩn, trừ nguy hiểm tức thời. Hạ Uyên có quyền biết lý do chuyển nơi, từ chối người tiếp xúc và yêu cầu người hỗ trợ có mặt. Khi đến mục cho phép đơn vị kỹ thuật truy cập dữ liệu thiết bị tại điểm bảo vệ để “bảo đảm vận hành”, cô ngẩng lên. “Ai là đơn vị kỹ thuật?” Không ai trả lời bằng một tên chung chung. Quân yêu cầu gạch bỏ mục đó, thay bằng kiểm tra tại chỗ, có hai người chứng kiến và không kết nối ra mạng nội bộ.

Nét bút đỏ kéo một đường qua câu chữ. Hạ Uyên nhìn đường gạch, rồi nhìn ô ký xác nhận ở cuối trang. Bàn tay phải của cô đặt trên chăn, không tìm tay An Nhiên. “Mười năm trước, họ cũng đọc cho tôi nghe,” cô nói. “Tôi không biết họ có đọc đúng tờ trước mặt hay không.” An Nhiên không hỏi ai đã đọc. Cô chỉ xoay tập giấy để Hạ Uyên có thể nhìn cùng lúc với người đọc, rồi yêu cầu đổi từng trang ngay trước mắt cô. Mỗi mục bị sửa đều được ghi lại ở lề, có hai chữ ký xác nhận và một bản sao để trong phong bì cô tự giữ. “Bảo vệ cô không có nghĩa là quyết định thay cô,” An Nhiên nói. “Nếu cô chưa chắc, chúng ta dừng.”

Hạ Uyên chạm ngón tay vào dòng đầu tiên, đọc từ trái sang phải rất chậm. Cô không ký ở cuối tập. Cô ký từng trang sau khi kiểm tra số trang, rồi tự ghi thêm một câu bên cạnh mục tiếp xúc điều tra: không hỏi về ký ức điểm giam nếu chưa có sự đồng ý riêng cho từng lần. Quân đọc câu ấy, yêu cầu cán bộ phụ trách đóng dấu xác nhận thay đổi. Đến trang cuối, Hạ Uyên giữ bút vài giây. Câu “đừng ký” không còn vang lên như mệnh lệnh từ một căn phòng tối; nó trở thành một câu hỏi về thứ đang nằm trước mặt. Cô nhìn An Nhiên, nhưng không xin câu trả lời. Sau đó cô ký tên mình, kéo nét bút dứt khoát và tự đóng nắp bút.

Bản ghi bốn mươi tám giây được đưa ra xử lý ngay sau đó. Hạ Uyên chọn cho phép dùng như thông tin điều tra hạn chế, không phải lời khai hoàn chỉnh. Thiết bị chỉ được mở niêm một lần để tạo bản sao có cô và hai người chứng kiến; nội dung không lên hệ thống chung, không phát ngoài nhóm chỉ định và không dùng để gọi tên nghi phạm. Nếu cần hỏi thêm, đội phải gửi trước phạm vi, còn cô được quyền dừng. Quân chấp nhận toàn bộ điều kiện. Anh không coi đó là một sự nhượng bộ. Một lời nhớ được bảo vệ khỏi chính người điều tra mới có cơ hội đứng vững khi bị kiểm tra về sau.

Khi thủ tục hoàn tất, An Nhiên mới hỏi Hạ Uyên có muốn đổi phòng hay không. Hạ Uyên nhìn cánh cửa, chiếc camera độc lập và phong bì bản sao đang nằm dưới tay mình. “Có chuyện với camera?” cô hỏi. Quân không giấu phần liên quan trực tiếp đến an toàn của cô. Anh nói một yêu cầu nội bộ đã cố lấy bảng tình trạng thiết bị của các điểm bảo vệ, nhưng bị chặn; chưa có dấu hiệu người đó biết địa chỉ này, cũng chưa có xâm nhập vật lý. “Nếu cô muốn chuyển, chúng tôi có thể chuẩn bị hai tuyến và một điểm dự phòng,” anh nói. “Nếu cô ở lại, hệ thống sẽ vận hành ngoại tuyến.” Hạ Uyên im lặng lâu hơn lúc ký giấy. “Tôi ở lại. Tôi không muốn mỗi lần họ chạm vào camera là tôi phải chạy.”

Quân không biến lựa chọn ấy thành phép thử. Anh yêu cầu ghi rõ Hạ Uyên đã biết mức nguy cơ, được cung cấp phương án chuyển nơi và chọn ở lại khi chưa có đe dọa trực tiếp. Tổ trực tăng một người ở lớp ngoài nhưng không đổi nhịp sinh hoạt trong phòng. Bữa sáng được mang vào bằng hộp giấy không có nhãn cơ sở. An Nhiên ép Hạ Uyên ăn nửa lát bánh trước khi uống thuốc, rồi tự bỏ lại viên giảm đau của mình vì dạ dày trống. Hạ Uyên đẩy phần cháo chưa dùng sang phía cô. Không ai nói về việc hai người đã nắm tay suốt đêm. Cái bát được đẩy qua mặt bàn đủ thay cho câu hỏi liệu An Nhiên còn ở lại hay không.

Tống Nghi gọi lại lúc 5 giờ 41 phút. Yêu cầu xuất bảng camera không phải thao tác duy nhất. Trong kho lưu tạm của hệ thống giám sát, cô tìm thấy một đoạn mất hình dài năm mươi ba giây ở kênh xem từ xa của hành lang điểm bảo vệ. Tệp gốc trong đầu ghi tại chỗ vẫn đủ hình, đồng hồ không lệch và người gác xuất hiện đúng thời gian ghi trong sổ. Khoảng trống chỉ tồn tại trên bản sao được chuyển về trung tâm. “Không ai đi qua mà camera không thấy,” Tống Nghi nói. “Có người làm cho trung tâm nghĩ camera không thấy.” Quân yêu cầu cô tách ba lớp dữ liệu: tệp gốc, bản sao trung tâm và nhật ký lệnh tạo mặt nạ riêng tư. Không được ghép chúng thành một kết luận trước khi xác minh chữ ký lệnh.

Dòng lệnh tạo khoảng trống được gửi đi ba phút trước yêu cầu xuất bảng tình trạng thiết bị. Nó dùng một mã bảo trì hợp lệ, nhưng không đi theo lịch kiểm tra nào và không có phiếu công việc. Quan trọng hơn, lệnh không tác động lên đầu ghi tại chỗ. Người gửi không cố xóa hình thật; họ chỉ muốn tạo ra một cảnh báo mất camera trong hệ thống trung tâm, rồi dùng cảnh báo ấy làm lý do xin danh sách các điểm đang có sự cố. Nếu yêu cầu được duyệt, mã camera của điểm bảo vệ có thể bị lộ mà không cần tìm tên Hạ Uyên. Đây không phải một cuộc tấn công vào cánh cửa. Nó là một cách buộc quy trình tự mở cửa từ bên trong.

Quân nhìn qua ô kính nhỏ. Hạ Uyên đang cầm thìa bằng tay phải, chậm nhưng không run. An Nhiên ngồi đối diện, tay trái đặt trên bàn, không chạm vào cô. Khái niệm “được bảo vệ” đã đổi nghĩa: không chỉ có người gác ngoài cửa, mà còn ngăn hệ thống tự tiết lộ nơi cánh cửa ấy nằm. Anh yêu cầu chuyển toàn bộ camera của điểm bảo vệ sang lưu cục bộ, niêm bản sao mỗi ca và cấm mọi thao tác mặt nạ từ xa. Danh sách mã thiết bị được tách khỏi hồ sơ nhân chứng, giữ ở một phong bì giấy do hai người cùng quản lý.

Tống Nghi im lặng vài giây rồi nói cô đã lấy được phần đầu của chứng thư dùng để tạo mặt nạ. Nó không trùng chứng thư DV-17 nhưng cùng đi qua kho khóa nội bộ Thành Nam. Tên người dùng bị bỏ trống trước khi lệnh vào hàng đợi; còn lại một chuỗi định danh kỹ thuật. Quân bảo cô không tra chuỗi ấy bằng danh sách nhân sự trực tiếp. “Đối chiếu qua lịch cấp khóa, máy tạo yêu cầu và người đã xác nhận thiết bị,” anh nói. “Ba đường riêng.” Tống Nghi đáp rằng sẽ cần mở kho nhật ký của phòng kỹ thuật dữ liệu, nơi lưu cả các thao tác phục hồi camera cũ.

Ngay khi cuộc gọi kết thúc, màn hình tách mạng hiện thêm một bản trả lời từ máy chủ trung tâm. Yêu cầu tạo khoảng trống năm mươi ba giây không được ký bằng tài khoản của đội bảo vệ nhân chứng. Nó được ký bởi một chứng thư phục hồi camera đã tồn tại từ thời hồ sơ lạnh, được gia hạn cùng đợt với nhóm quyền DV-17. Phần tên vẫn bị che sau lớp ánh xạ cuối. Quân không đọc thành tiếng trước căn phòng phía sau. Anh chỉ khóa bản trả lời, đặt thêm một niêm phong lên thiết bị và gọi Tống Nghi trở lại. “Mở lớp ánh xạ đó,” anh nói. “Nhưng đừng gọi người đứng sau là nghi phạm cho đến khi chúng ta biết ai đã dùng khóa của họ.” Trên màn hình, đoạn camera trống chỉ dài năm mươi ba giây. Phía sau nó là một người trong hệ thống đã biết chính xác phải làm mất hình ở đâu để được quyền nhìn thấy nhiều hơn.