Chương 27 - Chương 27: Thư Cha Chưa Gửi
Chương 27: Thư Cha Chưa Gửi
Dấu sáp trên lớp niêm thứ hai còn chưa nguội, nội thị Khôn Nghi cung đã đưa tay nhận hộp. Mưa ngoài hiên mỏng dần thành một màn bụi trắng, nhưng sân Vĩnh Ninh vẫn không ai dám rời chỗ. Tạ Uyển nhìn mảnh giấy mục nằm giữa hai lớp giấy bọc, rồi khép sổ lại bằng một động tác chậm. “Vật chứng có văn tự chưa lập trích yếu, theo lệ không được nhập kho kín,” nàng nói. “Nếu chữ mục mất sau khi đổi tay, sẽ không còn cách xác định lúc phát hiện nó viết gì. Xin mở tại đây, trước đủ người chứng, chỉ ghi những nét còn đọc được, không suy đoán phần thiếu.”
Nội thị cau mày. “Giấy đã mục, mở ra làm rách thì ai chịu trách nhiệm?” Diệp Thanh nhìn phần mép giấy vàng giòn rồi đáp có thể dùng hơi ẩm rất nhẹ làm mềm thớ giấy, sau đó tách bằng nhíp gỗ; tiếp tục ép kín trong lụa còn vương chất dầu mới dễ làm giấy nát hơn. Lý Chiêu Nghi bảo Mạnh cô cô dọn án vào gian bên tiền điện, mở cả hai cánh cửa để người ngoài nhìn thấy, lại gọi thêm một nữ sử Nội Lễ ghi chép. Nàng không xin giữ vật chứng; nàng chỉ khiến không ai có thể lấy nó đi trong im lặng.
Mảnh giấy được đặt trên một tấm sa trắng, cách ngọn đèn nửa thước. Diệp Thanh hơ chén nước ấm dưới đáy khay, để hơi nước mỏng như sương lướt qua mặt giấy rồi dùng đầu nhíp gỡ đường gấp đầu tiên. Từng thớ giấy bật lên rất nhỏ, nghe không thành tiếng, nhưng Tạ Uyển vẫn thấy cổ tay mình căng cứng như đang giữ một vật nặng. Khi nếp gấp cuối cùng hé ra, chữ “Tạ” không còn đứng một mình. Phía sau nó là hai nét mực nhòe, miễn cưỡng ghép được thành hai chữ “đại nhân”; dưới hàng ấy còn sót lại một câu đứt quãng: “…việc quân cơ không ở biên… đường hương vào Nội Lễ…”
Không ai lên tiếng ngay. Mạnh cô cô khép mắt, sắc mặt trắng hơn lớp sa lót. Diệp Thanh nhắc không được nối ý thay cho nét chữ. Tạ Uyển viết nguyên văn những gì nhìn thấy, chỗ mất để trống, chỗ không chắc chỉ ghi dấu nghi vấn. Đầu bút đi đều, nhưng từng nét mực kéo nàng về những năm Tạ gia còn ở kinh: phụ thân trở về lúc trời gần sáng, áo bám bụi, đặt tay lên đầu nàng rồi lại rút về vì ngón tay còn dính mực; mẫu thân đóng cửa sổ sớm hơn mọi nhà; người hầu lần lượt bị cho nghỉ mà không ai nói vì sao.
Nội thị Khôn Nghi cung đọc bản trích yếu, ánh mắt dừng ở bốn chữ “đường hương Nội Lễ”. “Chỉ vài nét rời, chưa biết gửi cho Tạ đại nhân nào. Trong triều người họ Tạ không ít.” Tạ Uyển gật đầu. “Vì vậy biên bản không ghi tên phụ thân ta.” Nàng viết thêm thời khắc mở giấy, tên từng người chứng và tình trạng mép giấy. Lý Chiêu Nghi yêu cầu sao ba bản: một theo vật chứng vào Khôn Nghi cung, một lưu Vĩnh Ninh, một giao Y cục đối chiếu chất dầu. Nội thị không thể phản đối quy trình vừa dùng để bảo vệ vật chứng, cuối cùng đành đặt dấu nhận.
Khi hộp sơn son được mang khỏi cổng viện, Tạ Uyển mới nhận ra đầu gối đau đến gần như không đứng thẳng. Nàng vừa vịn mép án thì A Nhiễm từ hành lang phía đông đi vào, hai tay nâng một phong thư bọc vải dầu. “Thư nhà của Tạ nữ quan. Người Nội Lễ đưa đến từ đầu canh năm, theo chuyến công văn từ quê lên. Mạnh cô cô sợ giữa lúc xét vật chứng có người vin vào việc riêng nên giữ lại đến giờ.” Phong thư vẫn nguyên dấu sáp Tạ gia, bên ngoài là chữ của mẫu thân nàng, góc trái có thêm một dòng rất nhỏ: việc cũ của phụ thân.
Tạ Uyển không mở ngay. Chỉ bốn chữ ấy đã khiến mùi ngọt lạnh trên mảnh lụa như trở lại nơi đầu ngón tay. Lý Chiêu Nghi bảo mọi người lui ra ngoài gian, chỉ để Mạnh cô cô đứng sau rèm. “Đây là thư nhà của ngươi,” nàng nói, giọng thấp và bình thản. “Bổn cung không có quyền hỏi.” Chính vì nàng không hỏi, Tạ Uyển lại càng khó giấu. Nàng đặt phong thư lên án, dùng dao giấy cắt sát mép sáp, cẩn thận giữ nguyên dấu niêm như một thói quen đã ăn vào xương.
Bên trong là thư của Tạ phu nhân, chỉ hơn nửa trang. Mẫu thân viết rằng thư tháng trước của nàng có hỏi về năm phụ thân bị giáng chức, hỏi ông từng tra sổ nào ở Lễ bộ và vì sao từ đó không còn nhắc Vĩnh Ninh cung. Bà đã do dự nhiều ngày rồi mở chiếc rương gỗ vẫn khóa từ khi Tạ gia rời kinh. Dưới đáy rương có một phong giấy không đề người nhận, nét chữ của phụ thân. “Ta từng nghĩ giữ nó lại là giữ bình an cho các con,” mẫu thân viết. “Nhưng nếu con đã đứng trước cánh cửa ấy, ta sợ giấu thêm một lần sẽ thành đẩy con vào đó mà không có đèn.”
Tờ giấy cũ được bọc riêng bằng lụa thô, mép sẫm màu nhưng chưa mục. Tạ Uyển chỉ nhìn nét móc đầu tiên đã nhận ra chữ của cha. Thuở nhỏ, ông từng cầm tay nàng tập viết chữ “lễ”, bảo nét ngang phải vững, nét sổ không được nghiêng; về sau chính chữ lễ ấy đưa nàng vào cung, còn ông bị đẩy khỏi kinh vì một bản tấu không ai cho phép trình lên. Nàng từng oán ông trong những đêm nghe mẫu thân tính từng đấu gạo, từng nghĩ nếu ông chịu cúi đầu một lần, Tạ Hành đã không lớn lên giữa lời dè bỉu. Ý nghĩ ấy chưa từng nói, nhưng nằm trong lòng lâu đến mức tưởng đã hóa đá.
Bức thư không có lời mở đầu. Phụ thân nàng viết: tháng tám năm Thừa Đức thứ tư, ông được giao đối chiếu danh mục lễ vật Bắc Yên với số xe qua cửa bắc Lễ bộ. Ba hòm ghi là hương an thần dùng trong nội đình không có tên trong sổ nhập kho chính, nhưng lại có giấy thông hành đóng ấn Lễ bộ. Một hòm chuyển đến Vĩnh Ninh trước khi Thục phi phát bệnh; hai hòm còn lại biến khỏi danh mục sau khi một viên thư lại quân cơ đến sao bản đồ phòng tuyến. Ông chưa dám kết luận hương và quân báo cùng một đường, chỉ ghi người vận chuyển dùng thẻ Nội Lễ để qua cửa cung, còn lớp lót hòm được thay sau mỗi chuyến.
Tạ Uyển đọc đến đó thì ngón tay dừng lại. Lớp lót hòm. Vệt dây đồng. Chất dầu trên lụa. Những mảnh rời nàng đã cố giữ riêng bỗng chạm nhau, chưa đủ thành chứng cứ, nhưng đủ thành một đường tối chạy từ Vĩnh Ninh năm xưa đến chiếc hòm hòa thân hôm nay. Mạnh cô cô đứng sau rèm khẽ nói: “Thục phi từng thay toàn bộ túi hương trong điện sau một đêm. Người bảo hương không sai, chỉ có vật đựng hương đã qua tay kẻ khác.” Giọng bà rất nhỏ, như sợ người chết nghe thấy mình nói muộn. “Ta không biết Tạ đại nhân cũng đã lần tới đây.”
Lý Chiêu Nghi đưa tay giữ mép bàn, khớp ngón tay trắng đi nhưng nét mặt vẫn tĩnh. “Phụ thân ngươi không phải vì một bản tấu vô căn cứ mà bị giáng.” Tạ Uyển không đáp ngay. Trên giấy, cha nàng viết rằng đã xin niêm ba bản kê để tra tiếp, nhưng sáng hôm sau một bản bị rút khỏi kho, người thư lại phụ trách bị điều ra biên, còn ông nhận lệnh dừng việc với lý do liên quan nội đình, không thuộc quyền tra xét của một quan viên Lễ bộ cấp thấp. Ông không gửi bức thư này vì chưa tìm được người đủ tin; gửi sai một người, Tạ gia sẽ không chỉ mất chức.
“Ông ấy vẫn chọn giữ lại,” Tạ Uyển nói. Giọng nàng không run, nhưng đầu ngón tay đã hằn một vệt đỏ lên mép giấy. Bao năm qua nàng luôn nghĩ phụ thân đã chọn chính nghĩa thay cho gia đình, để mẫu thân và hai chị em gánh phần hậu quả. Bây giờ nàng mới thấy trong từng câu đều có dấu vết của một người đã sợ: sợ thư bị chặn, sợ tên người nhận thành tội, sợ một bước mình đi sẽ kéo cả nhà xuống. Ông không khác nàng. Chỉ là khi ấy ông không tìm được một quy chế đủ mạnh để giữ chứng cứ sống sót.
Chiêu Nghi không an ủi. Nàng chỉ kéo ngọn đèn lại gần, để ánh sáng phủ đều mặt giấy mà không chạm tay Tạ Uyển. “Ngươi có thể cất phần này đi. Vật từ nhà gửi vào không thuộc hồ sơ Vĩnh Ninh.” Tạ Uyển nhìn bóng hai người chồng lên mép án rồi lắc đầu. “Nếu ta giấu vì sợ, ta sẽ làm đúng điều kẻ kia mong muốn. Nhưng thư này chưa thể nhập biên bản; nó không có người nhận, không có dấu tiếp nhận, chỉ là bản ghi của phụ thân ta.” Nàng dừng một nhịp. “Ta sẽ sao những dòng có thể đối chiếu bằng sổ. Khi tìm được sổ xe cửa bắc hoặc bản kê hương năm ấy, nó mới thành chứng.”
Đó không phải một quyết định can đảm đến mức không biết sợ. Tạ Uyển biết rõ chỉ cần chữ của cha xuất hiện trong vụ Thục phi, Tưởng Thừa Ân sẽ có cớ nói Tạ gia nuôi hận cũ, bịa chứng cứ để báo thù. Nàng cũng biết từ giờ mọi lần nàng bước vào Vĩnh Ninh, mọi ánh mắt dừng trên Chiêu Nghi, đều có thể bị ghép thành tư tâm. Nhưng khi nàng gấp lại thư của mẫu thân, nỗi sợ không còn là một bức tường kín. Nó đã có tên, có năm tháng, có những trang sổ cần tìm và những người đã cố xóa chúng.
Tạ Uyển tiếp tục đọc phần cuối. Mực ở đó nhạt hơn, có lẽ được viết sau nhiều ngày, câu chữ không còn đều như phía trên. Phụ thân nàng ghi rằng một nữ sử Vĩnh Ninh từng tìm cách đưa tin ra ngoài, nhưng người ấy không đến điểm hẹn; chỉ để lại lời nhắn rằng “đừng tra hương, hãy tra người đổi lụa”. Dưới đó là một dòng bị gạch rồi viết lại: “Ngày mai ta sẽ đến Lễ bộ xin xem bản kê niêm kín lần cuối. Người hẹn gặp ta nói có thể trả lại trang sổ đã mất.”
Tạ Uyển tưởng bức thư đã hết, nhưng khi nghiêng giấy dưới đèn, nàng thấy ở sát nếp gấp còn một hàng chữ bị che bởi vệt mực loang. Diệp Thanh không có ở đây để làm mềm giấy, nàng không dám chạm nước, chỉ dùng tấm gương đồng nhỏ hắt ánh sáng xiên qua mặt giấy. Những nét cuối hiện lên từng chút một. Lý Chiêu Nghi đứng đối diện, không thúc giục, song ánh mắt đã lạnh hẳn khi Tạ Uyển đọc thành tiếng: “Người giữ trang sổ ấy là Tưởng Thừa Ân.”
