Bỏ qua nội dung

Chương 9: Hạn chót quá đẹp

Ô nguồn vốn lưu động của Lam Viên vẫn còn trống khi Minh Thành mở lại màn hình vào sáng hôm sau.

Anh không nhìn nó lâu. Câu hỏi đã được đặt đúng chỗ: chờ Lam Viên chứng minh, không biến một khoảng trống trong phụ lục thành kết luận. Việc của Thành Nam lúc này là kiểm tra xem chính phương án của mình còn đứng được đến đâu sau phiên phản biện.

Hoài Nam đã đến trước anh gần nửa giờ. Trên màn hình lớn của phòng dự án là ba cửa sổ mở song song: mô hình tài chính, lịch thẩm định và bản dự thảo kế hoạch đàm phán.

“Em đã chạy lại hai kịch bản anh yêu cầu.” Hoài Nam xoay máy tính bảng về phía anh. “Nếu bàn giao chậm thêm hai tuần, lợi thế tài chính vẫn còn nhưng giảm rõ. Nếu doanh thu ở khu tạm thấp hơn giả định thì khoản dự phòng chịu áp lực sớm hơn.”

“Điều kiện nào khiến nó gãy?”

“Nếu hai chuyện xảy ra cùng lúc: bàn giao chậm và chi phí chuyển tiếp tăng. Lối hậu cần em vẫn để trạng thái chưa xác minh.”

Minh gật đầu. Đó là cách anh muốn bảng này được đọc từ giờ: không phải một con số đẹp nhất, mà là giới hạn của nó.

Anh chuyển sang lịch thẩm định. Những mốc trước mắt đã quá quen: nộp bổ sung kỹ thuật, làm rõ mô hình tài chính, phiên thương lượng điều kiện, hoàn tất rà soát và ký thỏa thuận nguyên tắc. Thành Nam vốn mạnh ở nhịp như vậy. Một đội gọn, quyết nhanh, cấu trúc vốn đã chuẩn bị từ sớm; nếu quy trình chạy đúng kế hoạch, mỗi ngày rút ngắn đều nghiêng lợi thế về phía họ.

Minh lướt qua lần đầu rồi dừng lại.

Dòng “Ký thỏa thuận nguyên tắc” nằm ở cuối bảng, tô màu xanh.

Ngày cuối cùng của quý.

Anh kéo lịch sang tháng kế tiếp rồi kéo ngược lại. Không có phiên họp hay bước phê duyệt nào được đánh dấu ngay sau đó. Chỉ có một đường kẻ dày kết thúc đúng vào ngày mà các phòng tài chính thường dùng để đóng một kỳ báo cáo.

Quá đẹp.

“Nam. Mốc ký này xuất hiện từ bản nào?”

“Bản cập nhật tuần trước.”

“Trước đó?”

“Là một khoảng dự kiến, hình như kéo sang đầu quý sau.”

“Kiểm tra.”

Hoài Nam mở lịch sử tài liệu. Hai bản tiến độ nằm cạnh nhau. Bản cũ để một khoảng thời gian; bản mới thu gọn thành một ngày cụ thể, đúng ngày cuối quý.

Minh đặt ngón cái lên mép bút. “Ai đề xuất đổi?”

“Bảng do Ban điều phối gửi.”

“Anh hỏi nguồn của mốc.”

Hoài Nam nhìn phần ghi chú cuối trang. “Kế hoạch của bên vận hành.”

Minh không thích những mốc thời gian tròn trịa chỉ vì chúng tròn trịa. Nhưng một ngày rơi đúng cuối quý có thể có hàng chục lý do bình thường: kế hoạch quản trị, ngân sách, kỳ họp nội bộ, thậm chí chỉ vì người lập lịch muốn có một ranh giới dễ nhớ. Anh chưa có quyền chọn một lý do thuận với nghi ngờ rồi gọi nó là sự thật.

“Gọi Ban điều phối xác nhận giúp anh. Chỉ hỏi đây là hạn bắt buộc của quy trình thành phố hay mốc kế hoạch do Tân Phúc đề xuất.”

Hoài Nam hơi chần chừ. “Nếu là mốc của Tân Phúc thì sao?”

“Thì mình biết nó là mốc của Tân Phúc.”

“Không suy thêm?”

“Chưa.”

Hồ Nhật Phong nhận cuộc gọi giữa hai cuộc họp. Minh hỏi thẳng.

“Ngày ký thỏa thuận nguyên tắc đang để đúng cuối quý. Tôi muốn xác nhận đây có phải mốc bắt buộc của Ban điều phối không.”

Ở đầu bên kia, Nhật Phong lật giấy vài giây.

“Không phải hạn pháp lý của thành phố. Đề án chung yêu cầu giữ tiến độ nhanh, nhưng ngày cụ thể là kế hoạch bên vận hành Tân Phúc đề xuất. Ban điều phối dùng mốc đó để sắp lịch.”

“Có bước nào buộc phải hoàn tất trước ngày ấy chỉ vì sang quý mới không?”

“Không. Các phê duyệt sau đó vẫn theo quy trình bình thường.”

Nhật Phong nhắc thêm rằng nếu Thành Nam muốn đề nghị điều chỉnh lịch, phải nêu rõ phần việc cần thêm thời gian và căn cứ kỹ thuật. Cuộc gọi kết thúc ở đó.

Hoài Nam ngả lưng vào ghế. “Vậy ít nhất không phải thành phố bắt buộc.”

“Ừ.”

“Nhưng Tân Phúc muốn. Lại đúng cuối quý.”

Minh nhìn cậu.

Hoài Nam nhún vai. “Em chỉ đọc lịch.”

Minh quay lại màn hình. Anh cũng đang đọc lịch. Từ ngày đầu, tiến độ gần như được đối xử như một mệnh lệnh: có bao nhiêu thời gian thì dùng bấy nhiêu. Cách đó rất hợp với Thành Nam. Họ thắng nhiều thương vụ vì biết mình chấp nhận được rủi ro nào khi người khác còn đang xin thêm dữ liệu.

Nhưng Tân Phúc đã làm một câu hỏi khác khó bỏ qua hơn: có những rủi ro nào không thể gọi là “xử lý sau” chỉ vì ký sớm giúp mình có lợi thế?

Minh kéo bản kế hoạch đàm phán sang giữa màn hình.

“Thêm một cột.”

“Cột gì?”

“Điều kiện phải rõ trước khi ký thỏa thuận nguyên tắc.”

Hoài Nam không gõ ngay. “Điều kiện tiên quyết?”

“Không phải tất cả. Chỉ những thứ nếu chưa biết thì mình chưa biết mình đang ký vào cái gì.”

Mục đầu tiên là căn cứ sử dụng lối hậu cần và ảnh hưởng nếu tuyến đó không ổn định. Thu Dung vẫn đang kiểm tra văn bản gốc; cho đến lúc có kết luận, Minh không muốn lịch thi công coi lối phía sau như thứ luôn sẵn sàng.

Mục thứ hai là điều kiện bàn giao. Không dùng một số ngày đóng khu cố định chỉ vì nó đẹp trong mô hình; thời gian phải gắn với việc di dời thực tế và các điều kiện chuyển tiếp có thể thực hiện.

Đến mục thứ ba, một thông báo mới từ Ban điều phối hiện lên. Đó là bản tổng hợp câu hỏi chuẩn bị cho buổi tham vấn tiếp theo. Phần lớn hỏi những việc quen thuộc: địa điểm bán tạm, mức phí, lịch đóng từng khu, trách nhiệm khi chậm bàn giao.

Một dòng ở giữa mang tên Nguyễn Văn Nghiêm.

Những người đang bán ở đó nhưng không có tên trong danh sách thì tính thế nào?

Hoài Nam đọc xong, quay sang Minh. “Lại chuyện danh sách.”

Minh nhớ dãy quầy anh đã thấy trong lần khảo sát đầu tiên, khoảng cách rõ ràng giữa bản đồ trên máy với thứ đang tồn tại ngoài thực địa. Khi ấy, họ mới chỉ biết có chênh lệch. Chưa ai chứng minh những quầy đó có quyền lợi gì, đã tồn tại bao lâu hay phải được đưa vào nghĩa vụ chuyển tiếp ở mức nào.

“Bên dữ liệu nền đang dùng danh sách chính thức,” Hoài Nam nói. “Nếu không có tên thì hiện tại mô hình không tính.”

“Hiện tại mô hình không tính không có nghĩa là họ bằng không.”

“Vậy thêm vào chi phí?”

“Chưa. Mình chưa biết họ là ai về mặt hồ sơ.”

Minh kéo con trỏ xuống dòng thứ ba.

“Ghi: phạm vi người đang hoạt động cần xử lý chuyển tiếp phải được đối chiếu trước ký. Tách rõ danh sách chính thức, chênh lệch thực địa và phần chưa xác minh.”

“Nếu bên vận hành không xác nhận kịp thì sao?”

“Thì mình phải biết cái giá của việc chưa xác nhận trước khi ký.”

“Cái đó có thể làm lịch chậm.”

“Có thể.”

“Và lịch nhanh đang có lợi cho mình.”

Câu đó đúng, nên mới đáng khó chịu. Nếu quy trình kéo dài, Lam Viên có thêm thời gian trả lời câu hỏi vốn; Thành Nam mất bớt lợi thế ở tốc độ. Nghi ngờ một hạn chót không làm lợi ích ấy biến mất.

Minh mở lại phụ lục Lam Viên, nhìn đúng ô còn trống rồi đóng nó lại.

“Câu nguồn vốn của Lam Viên giữ ở mục chờ chứng minh. Không đưa nó thành giả định họ thiếu tiền trong kế hoạch đàm phán.”

Hoài Nam gật đầu. “Vì chưa có số?”

“Vì chưa có câu trả lời.”

Họ làm thêm gần một giờ. Danh sách cuối cùng không dài: phạm vi đối tượng chuyển tiếp, lối hậu cần, điều kiện bàn giao và những giả định có thể làm thay đổi đáng kể chi phí hoặc thời gian triển khai. Minh gạch bỏ vài mục vì chúng có thể để lại cho hợp đồng chi tiết mà không làm sai bản chất quyết định ban đầu.

“Đừng biến danh sách này thành lý do đòi mọi thứ hoàn hảo,” anh nhắc. “Mình không cần biết từng hóa đơn trước khi ký nguyên tắc.”

“Chỉ cần biết những thứ có thể làm nguyên tắc sai.”

“Đúng.”

Hoài Nam nhìn cột tiến độ bên cạnh. “Vậy mình có đề nghị lùi mốc không?”

Minh không trả lời ngay.

Trước đây, anh sẽ bắt đầu bằng câu hỏi làm sao giữ mốc rồi chia rủi ro thành những thứ giải quyết được sau. Cách ấy không hẳn sai. Nhiều thương vụ không thể chờ đến khi mọi dấu hỏi biến mất. Nhưng Tân Phúc đã có vài dấu hỏi nằm đúng ở những chỗ có thể thay đổi chi phí và khả năng triển khai.

Anh không muốn lùi chỉ vì thấy một ngày cuối quý đáng ngờ. Cũng không muốn giữ chỉ vì ngày đó đã được in trên bảng.

“Chưa đề nghị gì cả. Đầu tiên xác định mỗi điều kiện cần bao lâu để kiểm tra. Nếu kịp, giữ mốc. Nếu không kịp, lúc đó mới có căn cứ để nói lịch phải đổi.”

“Còn nếu Tân Phúc bảo ký trước rồi xử lý sau?”

“Thì mình hỏi thứ nào họ muốn để sau, và nếu sai thì ai chịu phần rủi ro đó.”

Cửa phòng dự án mở khi Hoài Nam vừa lưu bản mới.

Quang Huy bước vào, tháo kính rồi đặt lên bàn. Ông nhìn bảng kế hoạch trên màn hình, sau đó nhìn cột mới nằm cạnh lịch đàm phán.

“Điều kiện phải rõ trước ký?” ông đọc.

“Em đang tách những giả định có thể thay đổi phạm vi chi phí hoặc khả năng triển khai.”

“Thỏa thuận nguyên tắc tồn tại chính vì không cần giải quyết hết trước khi ký.”

“Em không định giải quyết hết.”

Quang Huy kéo ghế ngồi xuống. “Nhưng cậu đang thêm một cửa kiểm tra vào đúng chỗ chúng ta có lợi thế nhất.”

Minh không phủ nhận. “Nếu các điều kiện này xác minh được trong lịch hiện tại, lợi thế vẫn còn.”

“Và nếu không?”

“Thì ít nhất mình biết tiến độ đang dựa vào thứ gì.”

Quang Huy nhìn anh vài giây, không giận, chỉ như đang đánh giá một phương pháp làm việc mà ông chưa quyết định có nên ngăn lại hay không.

“Nhanh là lợi thế của mình. Đừng biến nó thành vấn đề nếu chưa cần.”