Chương 63 - Chương 63: Mưa Lũ Thanh Châu
Chương 63: Mưa Lũ Thanh Châu
Giấy niêm phong trên cửa kho cứu tế còn chưa kịp khô dấu son thì tiếng mõ báo nước đã gõ qua nửa thành Thanh Châu. Mỗi nhịp mõ từ phía Đông truyền vào đều bị mưa đập nát một nửa, nhưng nửa còn lại vẫn đủ làm người trong sân Lục gia trắng mặt. Ta đứng trước cánh cửa kho, nhìn những bao gạo xếp sau khe cửa tối như nhìn thấy một cái cân treo giữa trời: một bên là lệnh từ Kinh Thành, một bên là mạng người ngoài mưa. Đáng tiếc cái cân ấy không nằm trong tay người đói.
Viên lại mục thu ấn vào hộp, cúi người với Lục Sùng rồi lại nhìn ta: “Lục công tử, hạ quan đã nói rõ. Mọi kho lương thuộc Lục gia đều chờ Thẩm đại nhân phê. Xin công tử tự trọng.” Ta gật đầu, không tranh nữa. Tranh thêm chỉ làm hắn vui vì có thêm một câu “kháng lệnh” để viết. Ta quay sang quản gia: “Xe trống đi trước. Dây thừng, ván cửa cũ, vải dầu, chiếu, củi khô, tất cả thứ không nằm trong kho cứu tế mang ra cửa Đông. Người biết bơi buộc dây ngang thắt lưng, mỗi đội năm người, không tự ý xuống nước cứu một mình.”
Quản gia đáp một tiếng, chạy đi. Lục Thanh Hành từ kho vải dầu trở về, tóc bị mưa dán lên trán, trong tay ôm một cuộn vải đen lớn đến mức cả người hắn như bị nó kéo thấp xuống. Hắn thở hổn hển: “Có ba mươi hai cuộn vải dầu, tám mươi tấm chiếu cũ, dây thừng còn nhiều. Nhưng không có gạo.” Nói đến ba chữ cuối, giọng hắn nghẹn lại, vừa tức vừa xấu hổ. Trước kia hắn ghét ta dùng sổ sách tính từng xu, hôm nay cuối cùng hiểu có vài thứ chỉ cần thiếu một chữ trong danh mục cũng có thể làm người ta bất lực.
Ta nhận cuộn vải trong tay hắn, nói: “Không có gạo thì trước hết đừng để người ta chết lạnh. Thanh Hành, ngươi dẫn hai đội ra đường quan phía Đông. Xe chỉ chở người già, trẻ nhỏ, người bệnh và nữ tử có thai. Nam đinh khỏe đi bộ men theo tường thành. Ai chen lên xe trước, ghi tên, lát nữa không được nhận suất nước nóng trước.” Hắn ngẩn ra: “Không phát gạo, còn ghi tên làm gì?” Ta đáp: “Trong hỗn loạn, tên người là dây thừng. Không ghi, lát nữa mất một đứa trẻ cũng không ai biết nên tìm ở đâu.”
Hắn mím môi, lần này không cãi. Ta nhìn bóng hắn lao vào mưa, bỗng nhớ đến thiếu niên từng chỉ biết hất cằm trước mặt ta trong sân gia học. Nước lũ quả nhiên là một vị tiên sinh rất nghiêm. Nó không hỏi ngươi thuộc phòng nào, cũng không hỏi cha ngươi là ai; nó chỉ hỏi chân ngươi có bước tới hay không.
Tạ Vân Chi đã tới cửa Đông trước chúng ta. Y quán Tạ gia mở hết cửa, mùi thuốc gừng, ngải cứu và rượu sát thương trộn với mùi bùn tanh nồng. Nàng không còn đứng ngoài vòng người như ở sân Lục gia nữa, mà xắn tay áo, chia người thành từng nhóm: người sốt lạnh ngồi dưới mái hiên, người bị thương đặt ở gian trái, trẻ nhỏ được bọc chiếu đưa vào trong. Một cô nương thường ngày thích cười, lúc nghiêm mặt lại có khí thế khiến cả mấy đại nương đang khóc cũng ngoan ngoãn làm theo.
Thấy ta đến, nàng chỉ nhìn một cái rất nhanh: “Lục công tử, bên này thiếu nước sạch. Nước giếng gần cổng đã đục, không dùng được. Nếu có thể, cho người đưa chum từ giếng sau Lục gia ra, đậy vải dầu, đun sôi rồi mới phát.” Ta nói: “Đã sai người đi. Thuốc chống lạnh còn bao nhiêu?” Nàng đáp: “Không đủ cho cả đêm. Nhưng thuốc không phải vấn đề lớn nhất.” Nàng cúi xuống buộc lại vải trên tay một đứa bé, giọng thấp hơn: “Bọn họ chạy từ Hạ Hà lên, từ sáng đến giờ chưa ăn gì.”
Ta nhìn đứa bé ấy. Nó ôm một mảnh bánh khô bị nước ngâm nở, không dám cắn, chỉ dùng răng chạm rất nhẹ như sợ ăn hết rồi sẽ không còn gì để nhớ. Trong đầu ta hiện lên gói gừng khô nàng đặt ở sân trước, rồi lại hiện lên bánh quế năm xưa dưới mái từ đường. Khi đó một miếng bánh có thể kéo một đứa trẻ khỏi ý nghĩ muốn chết. Bây giờ trước mắt ta không chỉ có một đứa trẻ.
Một sai vặt Lục gia chạy từ phía phủ nha đến, trượt chân ngã ngay trước thềm y quán. Hắn vừa bò dậy vừa nói: “Công tử, người của chúng ta theo lý trưởng đến kho quan xin phát lương. Kho quan không mở. Nói là lương cứu tế đã chuyển lên kho Bắc từ ba ngày trước, chờ phủ nha điều phối.” Ta nheo mắt: “Ba ngày trước?” Hắn gật đầu: “Nhưng người giữ kho Bắc lại nói không nhận đủ. Trên sổ chỉ có dấu nhận, không có bao lương. Bọn họ đuổi chúng ta đi, bảo dân tạm đến các nhà thế tộc xin trú mưa.”
Mưa rơi xuống mái hiên, từng giọt kéo dài như những dòng mực loang. Ba ngày trước, trời chỉ mới âm u, đê phụ chưa báo nứt, mà lương cứu tế đã “chuyển kho”. Người làm kho vận sợ nhất hai chữ chờ phát và đã chuyển. Nó giống như một cánh cửa không có then: nhìn thì thông, bước vào mới biết phía sau là tường. Ta hỏi: “Có thấy xe vận lương không?” Sai vặt nuốt nước bọt: “Có dân phu nói đêm hôm kia từng thấy hơn mười xe phủ bạt đi qua bến Bắc, nhưng xe nhẹ, bánh không lún sâu. Tiểu nhân không dám hỏi thêm.”
Vân Chi ngẩng đầu nhìn ta. Nàng không nói “ta biết ngay”, cũng không hỏi ta định làm gì. Ánh mắt nàng chỉ dừng trên những người đang run dưới mái hiên, như nhắc ta rằng chứng cứ có thể chờ thêm một canh giờ, còn thân nhiệt của người già thì không. Ta lấy bàn tính nhỏ trong túi áo ra. Tiếng hạt tính chạm nhau khô khốc giữa màn mưa, nghe hơi buồn cười, nhưng ta cần thứ âm thanh ấy để kéo lòng mình khỏi cánh cửa kho bị niêm.
“Ghi lại,” ta nói với quản sự đi theo. “Một: kho quan Đông không mở. Hai: lương cứu tế được báo đã chuyển kho ba ngày trước. Ba: kho Bắc phủ nhận nhận đủ. Bốn: dân phu thấy xe bạt nhẹ qua bến Bắc đêm hôm kia. Tất cả chỉ ghi là lời trình, không kết luận.” Quản sự run tay lấy giấy dầu bọc sổ. Ta lại nói: “Sai người đến ba nhà gạo trong thành, không ép mua, chỉ hỏi họ còn bao nhiêu gạo tư, giá bao nhiêu, có đồng ý bán chịu cho Lục gia dưới danh nghĩa khoản nợ riêng của ta hay không.”
Lục Thanh Hành vừa đưa một xe trẻ nhỏ vào y quán, nghe câu ấy liền trợn mắt: “Ngươi muốn tự bỏ tiền mua gạo? Kho nhà mình đầy ra kia!” Ta nhìn hắn: “Kho nhà mình đang bị triều đình khóa. Gạo ngoài phố chưa bị khóa.” Hắn tức đến bật cười: “Ngoài phố lúc này còn ai chịu bán?” Ta đáp: “Vậy càng phải hỏi. Người không chịu bán cũng phải ký không chịu bán. Sau này khi họ nói Lục gia thấy chết không cứu, ta còn biết nên mời họ cùng đứng dưới tấm biển ấy.”
Hắn nghẹn một chút, rồi mắng khẽ một câu không hợp lễ, quay đầu đi làm. Ta giả như không nghe thấy. Trong ngày thường, ta hẳn sẽ nhắc hắn lời nói phải sạch hơn áo tơi; nhưng hôm nay áo tơi của tất cả đều đã bẩn, lời nói còn sạch quá cũng vô dụng.
Đến xế chiều, nước trên đường quan đã dâng qua mắt cá. Người từ Hạ Hà, Nam Loan, Bến Đông kéo lên từng nhóm, có người ôm gà, có người cõng mẹ già, có người chỉ ôm một cái hũ rỗng. Mấy chiếc xe Lục gia đi đi về về, bánh xe nghiến qua bùn tạo thành rãnh sâu. Vải dầu được căng dưới tường thành, chiếu cũ trải thành hàng, củi ướt được chẻ nhỏ đốt lên từng đống lửa yếu ớt. Y quán Tạ gia biến thành một cái miệng nhỏ cố nuốt cả cơn lũ, nuốt được người này thì người khác lại ngã xuống trước cửa.
Tin từ các nhà gạo lần lượt trở về. Hai nhà đóng cửa không gặp, một nhà đồng ý bán ba mươi thạch nhưng giá cao gấp ba, còn yêu cầu bạc giao ngay. Quản sự tức đến môi run: “Bọn họ nhân lúc cháy nhà mà hôi của!” Ta nhìn tờ giấy ghi giá, chỉ thấy lạnh. “Ghi lại tên, giá, giờ hỏi mua. Không tranh. Sai người đem đồ bạc trong viện riêng của ta đi cầm trước, đổi được bao nhiêu mua bấy nhiêu. Gạo mua được không nấu cháo đặc. Nấu nước gạo loãng, phát cho trẻ nhỏ và người già trước.”
Vân Chi nghe thấy, quay đầu nhìn ta. Mưa làm tóc mai nàng dính vào má, trên tay còn vết máu của một người bị ngã vỡ trán. Nàng nói rất nhỏ, chỉ đủ ta nghe: “Ngươi đang kéo thời gian.” Ta cũng nói nhỏ: “Ta đang kéo mạng người.” Nàng im lặng một hơi, rồi gật đầu. Không có lời an ủi, cũng không có lời trách. Chỉ một cái gật đầu ấy, lòng ta vốn bị mưa đè đến khó thở bỗng có chỗ đặt xuống.
Nhưng đến khi trời sẩm tối, đám đông bắt đầu đổi giọng. Ban đầu họ chỉ khóc, sau đó hỏi, rồi dần dần có tiếng oán. “Lục gia có kho cứu tế mà!” “Gạo trong thành đều ở tay các nhà lớn!” “Quan phủ bảo đến Lục gia xin trú, sao không phát cháo?” Một nam nhân áo nâu đứng lẫn trong đám người bỗng hô rất to: “Kho Lục gia đầy gạo! Họ khóa cửa nhìn dân chết đói!” Tiếng hô ấy quá gọn, quá đúng chỗ, như một hòn đá đã được mài sẵn cạnh.
Lục Thanh Hành lập tức muốn lao tới bắt người, ta giữ cổ tay hắn lại. “Đừng động. Trong đám đông có trẻ nhỏ.” Hắn nghiến răng: “Vậy cứ để hắn vu oan?” Ta nhìn người áo nâu bị dòng người che đi rất nhanh, đáp: “Không phải vu oan hoàn toàn. Kho đúng là có gạo, chỉ là giấy niêm cũng đúng là ở đó.” Đây mới là chỗ độc của Thẩm Kính. Hắn không cần bịa một lời hoàn toàn giả. Hắn chỉ cần đặt hai sự thật cạnh nhau, rồi để dân đói tự xé nát phần ở giữa.
Một tiếng sấm đổ xuống, cổng Đông Thanh Châu mở thêm một khe cho đoàn dân cuối cùng vào thành. Dòng người theo đường lớn tràn về phía Tây, không còn chỉ đến y quán hay tường thành nữa. Họ hỏi đường đến Lục gia. Họ nghe nói kho cứu tế ở đó. Họ nghe nói gạo còn ở đó. Họ cũng nghe nói con cháu Lục gia đang đứng ngoài mưa làm người tốt nhưng không mở cửa kho.
Khi ta trở về trước phủ Lục gia, trời đã tối hẳn. Đèn lồng dưới mái bị gió thổi nghiêng, ánh sáng đỏ nhạt quệt lên giấy niêm phong trên cửa kho như máu loãng. Ngoài cổng lớn, dân chạy lũ tụ lại càng lúc càng đông, tiếng khóc, tiếng ho, tiếng trẻ con gọi mẹ chen vào tiếng mưa. Lục Thừa Viễn đứng dưới mái hiên, sắc mặt nặng nề nhưng mắt lại sâu không thấy đáy: “Hoài Tranh, nếu dân làm loạn trước cửa Lục gia, trách nhiệm này ngươi gánh nổi không?”
Ta không trả lời ông ta ngay. Ta bước đến trước cổng, nhìn qua khe cửa thấy một bà lão ôm cháu nhỏ quỳ trong bùn, đứa bé trong lòng nàng mím môi, mắt lạc đi vì đói và lạnh. Phía sau họ, hàng trăm đôi mắt cùng nhìn vào tấm biển Lục gia. Ta bỗng hiểu, có những cánh cửa một khi bị dân chúng nhìn thấy, dù chưa mở cũng đã trở thành lời thẩm vấn.
Ta quay đầu nói với quản gia: “Không đóng thêm then. Đốt hết đèn ngoài cổng. Đặt bàn, giấy, mực dưới mái hiên. Ai đến xin lương, ghi tên, thôn, số người trong nhà, tình trạng bệnh. Ai hô đập kho, cũng ghi lại mặt và lời.” Lục Thừa Viễn lạnh giọng: “Ngươi còn muốn ghi?” Ta nhìn cánh cửa kho cứu tế sau lưng, rồi nhìn biển người trước mặt: “Đêm nay nếu không cứu được hết người, ít nhất đừng để sự thật cũng chết đói.”
Đúng lúc ấy, bên ngoài cổng vang lên một tiếng hô xé mưa: “Mở kho! Lục gia mở kho cứu mạng!” Tiếng hô thứ hai lập tức nối theo, rồi thứ ba, thứ tư, như nước lũ cuối cùng cũng tìm được khe đập vào tường. Giấy niêm trên cửa kho phần phật trong gió. Ta đứng giữa cánh cửa bị khóa và đám đông đang đói, lần đầu tiên cảm thấy tiếng bàn tính trong tay mình nhẹ đến đáng thương.
