Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 80: Hoa Đăng Và Bàn Tính

Chương 80: Hoa Đăng Và Bàn Tính

A Mộc chạy đến trước bậc đá thì suýt trượt trên lớp tuyết mới. Phong thư trong tay hắn còn nguyên sáp đỏ, dấu kinh thành in sâu đến mức mép giấy cũng bị ép nhăn. Vân Chi đứng cạnh chiếc hoa đăng, nụ cười vừa kịp mở ra đã khựng lại. Ta nhận thư, ngón tay chạm vào sáp lạnh, trong lòng bỗng nhớ câu Thẩm Kính để lại trước khi bị dẫn đi: thắng ở Thanh Châu, chưa chắc thắng được kinh thành. Hóa ra hắn không nói để dọa suông. Người như hắn, trước khi bị kéo xuống nước, vẫn còn nhớ ném một hòn đá về phía người đứng trên bờ.

Sứ giả kinh thành chưa đi xa. Nghe hai chữ hôn sự, ông quay lại, ánh mắt rơi lên phong thư rồi rơi sang Tạ Hành Chu. Tạ thúc vịn cột hành lang, sắc mặt vốn đã nhợt vì vết thương nay càng trắng hơn. Vân Chi nhìn cha mình, rồi nhìn ta, không hỏi ta có cách không. Nàng chỉ đưa tay giữ hoa đăng khỏi bị gió thổi nghiêng, như thể trước khi nghe một tin xấu, người ta vẫn có thể cứu được một ngọn lửa nhỏ. Ta mở thư trước mặt mọi người. Bên trong không phải thánh chỉ đóng hoàng ấn, mà là văn thư hỏa tốc của một nha môn ở kinh, nói Thẩm gia trình hôn thư cũ, xin buộc Tạ Vân Chi theo ước vào kinh chờ định lễ, để tránh Thanh Châu lấy án quân lương làm cớ hủy hôn bội tín.

Ta đọc xong, gấp thư lại. A Mộc nín thở, Thanh Hành bật ra một tiếng chửi rất nhỏ, nhỏ đến mức tổ tiên Lục gia chắc cũng chỉ coi như gió lùa. Sứ giả nhíu mày. “Văn thư này đi bằng đường quan, nhưng không phải chỉ dụ của bệ hạ. Người viết muốn nhanh hơn án phục thẩm.” Ta gật đầu. “Nhanh hơn án, nghĩa là sợ án tới trước.” Một câu ấy khiến hành lang yên xuống. Ta nhìn dấu sáp lần nữa, nhận ra bên mép có vết ép của Thẩm gia. Hôn thư cũ từng bị họ dùng để ép Tạ gia trong tiệc liên minh, sau đó lại bị ta dùng khế ước thương vụ và giấy mua nợ phá thế. Ta không ngờ họ vẫn giữ nó như một con dao cùn, đến lúc cùng đường vẫn cố rạch vào danh dự của Vân Chi.

Tạ Hành Chu chậm rãi lấy từ tay áo ra một xấp giấy đã ố vàng. “Lục công tử, những thứ này vốn nên giao sớm hơn.” Ông gọi ta là Lục công tử, nhưng giọng không còn sự né tránh của những năm trước. “Một tờ là hôn thư cũ. Một tờ là giấy Thẩm gia nhận bạc để hoãn lễ khi Tạ gia gặp nạn. Một tờ là văn tự họ dùng khoản nợ dược liệu ép ta ký thêm điều kiện. Ta từng sợ Vân Chi bị liên lụy, nên cứ nghĩ nhẫn thêm một ngày là giữ được con bé thêm một ngày.” Vân Chi không trách ông. Nàng chỉ bước tới, đỡ cánh tay cha, khẽ nói: “Cha, hôm nay đừng giấu nữa.”

Ta đặt giấy tờ lên chiếc hòm vật chứng của Thanh Hành. Bàn tính ngọc cũng được đặt cạnh đó. Một bên là hoa văn hạt tính của Tô Diên, một bên là giấy hôn cũ của Tạ gia; nhìn qua chẳng liên quan, nhưng cùng bị người ta dùng hai chữ danh phận để khóa chặt. Ta mở hôn thư, chỉ vào chỗ thiếu ngày sinh của Vân Chi và chỗ sửa năm bằng mực khác màu. “Thẩm gia muốn lấy hôn thư làm lệnh, vậy trước hết phải chứng minh hôn thư không bị sửa, không kèm ép nợ, không dùng lúc Tạ gia bị niêm y quán để đổi điều kiện. Nếu lấy văn tự như vậy buộc nữ tử vào kinh, mai sau bất cứ nhà nào có bạc và quan phù cũng có thể mua một đời người.” Sứ giả nhìn rất lâu rồi nói: “Ta sẽ ghi lời này vào tấu trình.”

Nhưng Vân Chi bỗng đưa tay đè lên tờ hôn thư. Nàng ngẩng đầu, chóp mũi vẫn đỏ vì lạnh, giọng không lớn mà rõ đến mức cả sân nghe thấy. “Không chỉ ghi lời của huynh. Ghi lời của ta nữa.” Ta nhìn nàng. Nàng cũng nhìn ta, trong mắt có ánh đèn, có tuyết, có một chút bướng bỉnh rất quen thuộc. “Ta là Tạ Vân Chi, không phải sính lễ, không phải vật chứng, càng không phải khoản nợ để hai nhà đem ra gán. Nếu Thẩm gia muốn ta vào kinh, xin họ chờ án quân lương xong, chờ Tạ gia y quán được hoàn danh, rồi tự mình tới hỏi ta có bằng lòng hay không. Khi đó ta vẫn sẽ trả lời: không.” Thanh Hành ho khan một tiếng, quay mặt đi, nhưng khóe miệng đã không nghe lời.

Sứ giả nhận giấy, lập tức sai thư lại viết biên bản đình hôn chờ xét. Lý do không phải vì ta là gia chủ mới, càng không phải vì Vân Chi đứng cạnh ta dưới tuyết, mà vì hôn thư có dấu sửa, có khế nợ ép buộc, có liên quan trực tiếp đến người đang bị phục thẩm trong án quân lương. Một ván này không thắng bằng may mắn. Nó thắng bằng những tờ giấy Tạ thúc giữ lại, bằng khế ước năm xưa ta mua lại đúng luật, bằng việc Vân Chi tự đứng ra nói nàng không bằng lòng. Đến khi biên bản đóng dấu, ta mới phát hiện bàn tay mình đã lạnh cứng. Vân Chi cúi nhìn, nhỏ giọng trêu: “Gia chủ Lục gia, tay huynh run rồi.” Ta đáp: “Vì lạnh.” Nàng “ồ” một tiếng, kéo dài đến mức ngay cả A Mộc cũng biết câu ấy không đáng tin.

Đêm đó không ai thả hoa đăng được. Nước trong rãnh đóng một lớp băng mỏng, nha môn cần lập văn thư, Lục gia cần đối chiếu từng khoản bẩn, Tạ gia cần đưa người bệnh về y quán. Ta ở từ đường đến gần sáng, cùng Thanh Hành ghi tên từng người, từng ruộng, từng món bạc phải trả lại kho cứu tế. Lục Sùng ở thiên viện xin viết một bản tự thú, không xin giảm tội cho mình, chỉ xin giữ lại những đứa trẻ vô can. Lục Thừa Viễn bị giải đi, lúc ngang qua sân đã nhìn thấy ta. Hắn không cầu xin. Ta cũng không nói lời nặng. Có những món nợ đưa cho quan phủ là đủ, nói thêm chỉ làm mình giống người từng làm ta ghét nhất.

Sau đó là những ngày không có màu truyền kỳ. Sổ gốc được đưa về kinh, sứ giả ở lại Thanh Châu chờ đối chiếu lời khai. Tài sản bẩn bị kê biên, một phần trả kho lương, một phần đưa vào Tạ gia y quán để chữa dân sau lũ. Bài vị của mẹ ta được đặt lên án chính trong từ đường Lục gia. Khi nét chữ Tô Diên được khắc xong, ta đứng dưới đó rất lâu. Ta từng nghĩ mình đến thế giới này là một sai số. Nhưng lúc nhìn gia phả mở lại, thấy một nhánh trẻ con vô tội được giữ tên nhờ quyết định đêm tuyết, ta bỗng nhớ chiếc bàn tính cũ trong đời trước, thứ từng nằm trên bàn làm việc của ta với một vết khắc hình hạt tính. Có lẽ ta chỉ trở về đúng chỗ một món nợ bắt đầu.

Một tháng sau, chỉ chính thức từ kinh thành tới Thanh Châu. Án Tô Diên được lật lại, tội thông địch xóa bỏ, Thẩm Kính bị đưa vào danh sách phục thẩm ở kinh, các quan lại liên quan tuyến vận lương bị tạm giam chờ tra. Lục gia vì mở kho trong lũ được miễn tội chết nhưng phải bồi hoàn theo sổ, chịu giám sát ba năm. Kết thúc ấy không giống thoại bản: không có một tiếng trống là trời quang, cũng không có một câu “từ nay vô sự”. Nhưng ta thấy nhẹ hơn. Công bằng thật sự phải có sổ, có người ký tên, có người trả giá, có người tiếp tục sống cho đàng hoàng.

Ngày ta chính thức nhận ấn gia chủ, Vân Chi cũng mở y đường mới ở đầu phố đông. Biển hiệu không lớn, chữ do Tạ thúc viết, bên dưới treo một chiếc hoa đăng nhỏ dù đang ban ngày. Nàng nói người bệnh bước vào thấy đèn thì bớt sợ. Ta hỏi: “Vậy ta bước vào có được bớt sợ không?” Nàng đang phân thuốc, nghe vậy liếc ta. “Gia chủ đại nhân còn sợ gì?” Ta nhìn bàn tính ngọc trong tay áo, rồi nhìn nàng. “Sợ hỏi sai thời điểm.” Vân Chi khựng lại, còn đám tiểu đồng trong y đường đồng loạt cúi đầu bốc thuốc như thể mỗi vị cam thảo trên bàn đều đáng nghiên cứu cả đời.

Ta đặt bàn tính ngọc lên quầy thuốc. “Mẹ ta để lại nó để ta học cách tính cho rõ. Nhưng nàng là người dạy ta, có những thứ không thể chỉ tính thiệt hơn.” Vân Chi nhìn bàn tính, rồi nhìn chiếc hoa đăng trước cửa. Tuyết đã tan, nước ngoài phố chảy qua rãnh đá, mang theo ánh nắng mỏng của đầu xuân. “Huynh đem vật truyền của Tô phu nhân tới y đường ta làm gì?” nàng hỏi, nhưng tai đã đỏ. Ta đáp: “Đặt sính lễ.” Nàng im lặng một lát rồi cầm một hạt tính gõ nhẹ lên trán ta. “Sính lễ chỉ có một bàn tính? Lục gia sau lũ nghèo đến vậy rồi sao?” Ta cười. Lần này ta cười rất thật, không cần học, không cần giả, cũng không cần giấu.

Hôn lễ của chúng ta không làm quá lớn. Thanh Châu vừa qua lũ, Lục gia vừa qua án, quá nhiều lụa đỏ sẽ khiến người ta quên mất có bao nhiêu mái nhà còn phải sửa. Vân Chi tự quyết một nửa tiền lễ đưa vào y đường, một nửa mua giống lúa phát cho dân ven sông. Tạ thúc khóc từ lúc chải tóc cho nàng đến lúc đưa nàng lên kiệu. Thanh Hành đứng bên cửa, nghiêm mặt giữ sổ lễ, chỉ cần ai ghi sai một đồng là hắn nhìn như muốn đem người đó đi phục thẩm. A Mộc thả hoa đăng trước cổng Lục gia, còn ta đứng dưới mái hiên nơi nhiều năm trước một đứa trẻ từng chờ người mở cửa từ đường. Lần này, cửa mở rộng, đèn sáng từ trong ra ngoài.

Đêm ấy, ta cùng Vân Chi đi tới bến nam. Nước sông sau lũ đã hiền hơn, từng chiếc hoa đăng trôi chậm, ánh sáng nhỏ nối nhau thành một con đường mềm trên mặt nước. Nàng đặt tay vào tay ta, khẽ hỏi: “Hoài Tranh, sau này huynh còn tính nhiều như trước không?” Ta nhìn bàn tính ngọc nàng đang cầm, rồi đáp: “Có. Nhưng sau này mỗi khoản ta tính, đều sẽ để lại một ô cho nàng sửa.” Vân Chi bật cười, tiếng cười tan vào gió đêm, ấm hơn tất cả đèn trên sông. Ta siết tay nàng, bỗng hiểu từ đường, sổ sách, hoa đăng và bàn tính chưa từng tách rời. Một thứ dạy ta nhớ sự thật, một thứ dạy ta giữ hy vọng. Và dưới ánh hoa đăng đêm ấy, Lục gia bước sang một thời đại mới, vì cuối cùng chúng ta đã dám cùng nhau đặt lại từng hạt tính của đời mình.