Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 79: Tuyết Rơi Trên Từ Đường

Lục Sùng quỳ giữa sân nha môn, lưng còng xuống dưới ánh mắt của cả Thanh Châu. Câu “Tô Diên không phản quốc” vừa rơi xuống, gió ngoài cổng đã lùa qua mái hiên, lạnh sắc như lưỡi dao mỏng. Ta đứng rất gần ông, nhưng trong lòng lại xa như vẫn còn cách một cánh cửa từ đường năm mười hai tuổi. Khi ấy ta bị nhốt bên trong, chỉ nghe người ngoài nhắc tên mẹ bằng giọng tránh né. Hôm nay cánh cửa đó cuối cùng mở ra, mà người mở cửa lại là người từng khóa nó lâu nhất. Sứ giả kinh thành đặt chén trà xuống. “Lục lão gia chủ, ông nói giữ lại sổ gốc, sổ ở đâu?”

Lục Sùng lấy từ tay áo ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ. “Ở từ đường Lục gia, sau bài vị chưa từng được đặt lên án chính của Tô Diên. Năm đó nàng đưa sổ cho ta, bảo ta nếu còn xem nàng là dâu Lục gia thì hãy đem sổ ra trước ánh sáng. Ta đã không dám.” Ông dừng một chút, giọng khàn đi. “Ta sợ tội thông địch liên lụy ba đời, sợ triều đình thanh toán cả nhà, nên dùng danh dự của nàng đổi lấy sự yên ổn của Lục gia.” Thẩm Kính nhìn chiếc chìa khóa, giọng vẫn đúng lễ. “Một chiếc chìa khóa do Lục gia tự đưa, một cuốn sổ do Lục gia tự cất, thêm một lão gia chủ tự nhận tội để cứu cháu mình. Đại nhân, nếu cứ thế tin, e là triều đình bị dân gian coi nhẹ.” Sứ giả chỉ nói: “Vậy càng phải đi lấy trước mặt quan sai, nhân chứng và người của Thẩm đại nhân.”

Đoàn người rời nha môn khi trời chuyển xám. Dân ngoài cổng lặng lẽ tách ra nhường đường. Ta đi sau sứ giả nửa bước, Vân Chi dìu Tạ Hành Chu ở bên kia, còn Thanh Hành ôm hòm vật chứng, mặt trắng hơn cả giấy niêm. Lục Sùng không chịu ngồi kiệu, ông đi chậm, mỗi bước như đạp lên mười mấy năm giấu giếm. Đến đầu phố Lục gia, hạt tuyết đầu tiên rơi xuống tay áo ta. Thanh Châu vừa trải qua mưa lũ, mái nhà còn loang bùn, nước đọng trong rãnh chưa rút hết, vậy mà gió bắc đã đem tuyết về. Có những vết bẩn không thể rửa bằng mưa, phải để cái lạnh chạm vào mới chịu hiện hình.

Từ đường Lục gia mở cửa trong tiếng bản lề cũ rên lên. Nơi này từng nuốt một đứa trẻ, một cái tên, cả tiếng khóc chưa kịp bật ra của người chết. Nay hai hàng đèn được thắp lên, ánh lửa lắc lư trên bài vị tổ tiên. Người các phòng bị gọi đến đứng kín sân, từ các trưởng bối từng cúi đầu giả câm đến mấy đứa trẻ nhị phòng nép sau lưng mẫu thân. Lục Thừa Viễn cũng được quan sai giải tới, cổ tay còn đeo khóa gỗ. Hắn nhìn Lục Sùng, rồi nhìn ta, khóe miệng giật một cái như muốn cười mà không đủ sức. Một đời hắn tranh quyền trong căn nhà này, cuối cùng lại về đây chờ người khác đọc sổ.

Lục Sùng đứng trước án thờ, không bước lên bậc cao. Ông dùng chìa khóa mở hộp gỗ sau một bài vị phụ, rồi nhấc tấm ván mỏng dưới chân án. Bên trong là một ống đồng niêm sáp, trên sáp có nửa dấu quan vận lương năm Bính Thân và một vết khắc nhỏ hình hạt tính. Tim ta thắt lại. Đó là dấu mẹ ta dùng trong mấy trang bản đồ cất trong bàn tính ngọc. A Mộc nhận ống đồng bằng khăn sạch, sứ giả kiểm sáp trước mặt mọi người rồi mới cho mở. Sổ bên trong không dày, giấy đã ngả màu, nhưng từng dòng vận lương, từng số xe, từng tên người áp vận vẫn rõ như vừa được viết hôm qua. Sổ sách thật sự không biết nói dối. Người nói dối mới sợ nó sống lâu hơn mình.

Sứ giả đối chiếu tại chỗ. Tuyến cửa đông trong sổ gốc khớp với bản đồ của mẹ ta, số xe khớp nửa thẻ tre của Trịnh Bá, dấu chì niêm khớp bao lương độc sau lũ, còn khoản “hao do lũ” mà Thẩm Kính từng viện ra lại được ghi bên lề bằng một nét chữ khác. Tạ Hành Chu nhận ra nét chữ ấy, Trịnh Bá cũng nhận ra. Lục Sùng nhắm mắt nói: “Nét của Thẩm Kính.” Thẩm Kính cười khẽ. “Một cuốn sổ bị cất mười mấy năm, muốn thêm nét chữ nào chẳng được.” Ta đặt bàn tính ngọc lên án, mở khe bên trong lấy mảnh giấy mẹ ta để lại, đặt cạnh dòng bên lề. Hai nét bút giống nhau ở cách móc cuối chữ Kính, nhỏ đến mức người thường không để ý, nhưng người sửa sổ quanh năm sẽ thấy. “Muốn thêm một nét chữ không khó,” ta nói, “khó là mười mấy năm trước đã biết hôm nay nên bắt chước sai cùng một chỗ.”

Lần này Thẩm Kính không đáp ngay. Sứ giả giơ tay, quan sai lập tức tiến lên thu lại quan phù bên hông hắn. Thẩm Kính không chống, chỉ nhìn ta bằng ánh mắt lạnh đến mức tuyết ngoài sân cũng thành ấm. “Lục Hoài Tranh, ngươi thắng một phiên thẩm, chưa chắc thắng được kinh thành.” Ta cúi đầu nhặt một hạt tính rơi khỏi bàn tính ngọc lúc mở khe, đặt lại vào rãnh. “Ta biết. Cho nên hôm nay ta chỉ tính xong món nợ của Thanh Châu.” Hắn bị dẫn ra khỏi từ đường. Nhưng ta không thấy nhẹ. Mẹ ta được kéo khỏi bùn, đồng nghĩa với cả Lục gia phải nhìn rõ ai đã đứng trên bờ mà im lặng.

Sứ giả tuyên ngay trước án thờ: án Tô Diên thông địch tạm đình, toàn bộ vật chứng đưa về kinh phục thẩm; trước khi có chỉ chính thức, Thanh Châu không được dùng tội danh ấy để bêu tên Tô Diên hay chèn ép Lục Hoài Tranh. Lục Sùng nghe xong thì quỳ xuống lần thứ hai, lần này không quỳ trước quan, mà quỳ trước bài vị tổ tiên. “Lão phu tự xin bỏ vị trí gia chủ cũ, giao ấn tộc và chìa kho sổ cho Hoài Tranh. Tội che giấu chứng cứ, tội ép một người vô tội gánh nhục, tội để con cháu lấy danh dự của nàng làm bậc thang, lão phu nhận.” Ông quay sang ta, mắt đỏ nhưng không cầu xin. “Con muốn xử thế nào, cứ xử.”

Cả từ đường đổ dồn mắt về phía ta. Lục Thừa Viễn cũng nhìn, như vừa chờ ta vung dao vừa mong ta thật sự vung xuống. Nhị phòng đã từng hại ta, sửa gia phả, đốt kho, cấu kết Thẩm Kính, đẩy dân Thanh Châu vào nước lũ để giữ lợi cho mình. Nếu hôm nay ta nói một câu diệt hết, có lẽ rất nhiều người sẽ thấy đó là công bằng. Nhưng sau lưng những người lớn ấy còn có mấy đứa trẻ run đến không khóc nổi, vài phụ nhân chưa từng được đặt bút vào một cuốn sổ nào, cũng chưa từng có quyền nói không với người đứng đầu phòng mình. Một hạt tính đẩy sai, kết quả không chỉ sai ở trang này, mà sai sang cả đời người khác.

Ta bước lên một bậc, đối diện tổ tiên Lục gia. “Người ký vào sổ độc, nhận bạc của Thẩm Kính, sửa gia phả, giấu chứng cứ, hại nhân chứng, đều giao quan phủ và tộc luật cùng xét. Nhà riêng, bạc riêng, ruộng riêng có liên quan đến khoản bẩn thì kê biên bồi cho kho cứu tế và Tạ gia y quán. Nhưng người không ký, không biết, không hưởng bạc bẩn, không được lôi ra chịu tội thay.” Một trưởng bối đại phòng run giọng hỏi: “Vậy nhị phòng…” Ta nhìn Lục Thừa Viễn. “Nhị phòng không phải một cái sọt để ném tất cả tội vào cho tiện. Ai có tội, tên người ấy ghi vào sổ. Ai vô tội, từ hôm nay học cách sống mà không núp sau kẻ có tội.” Lục Thừa Viễn cúi đầu, vai khẽ rung. Ta không biết hắn đang cười hay đang khóc, và lần này ta không cần biết.

Lục Sùng dập đầu xuống nền từ đường. Thanh Hành là người đầu tiên bước ra, quỳ xuống nhận ấn tộc từ tay Lục Sùng rồi nâng lên trước mặt ta. Hắn không còn dáng vẻ thiếu gia kiêu ngạo năm xưa, chỉ còn một người trẻ mệt mỏi vì cuối cùng hiểu trưởng thành không phải là đứng cao hơn người khác, mà là dám đứng vào chỗ khó nhất. “Gia chủ,” hắn khàn giọng nói, “ta sẽ giúp huynh ghi từng tên.” Ta nhận ấn, không sửa cách gọi của hắn. Ngoài mái hiên, tuyết rơi dày hơn, phủ lên sân cũ một lớp trắng mỏng. Không đủ che hết vết bùn, nhưng đủ để người ta biết từ đây mỗi bước chân đều sẽ in dấu rõ ràng.

Vân Chi đứng cạnh cửa từ đường, áo choàng bị tuyết làm ướt một mảng nhỏ. Từ lúc vào đây, nàng không nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng đỡ Tạ Hành Chu, thỉnh thoảng nhìn ta như sợ ta đứng quá lâu sẽ quên mình cũng biết đau. Khi mọi người bắt đầu tản ra lập biên bản, nàng mới đi tới, dúi vào tay ta nửa miếng bánh quế được bọc lại từ sáng. “Bây giờ ăn được chưa?” nàng hỏi rất khẽ. Ta nhìn miếng bánh đã nguội thêm một lần nữa, bỗng thấy cổ họng nghẹn đến buồn cười. Ta cắn một miếng, vị quế lạnh và ngọt lan ra, giống một ngọn đèn nhỏ được thắp trong ngực.

Sứ giả kinh thành cho người niêm phong sổ gốc, rồi nói đêm nay tạm nghỉ, sáng mai lập văn thư đưa về kinh. Lục Sùng được đưa sang thiên viện chờ xét tội, Lục Thừa Viễn bị giải về nha môn, còn các phòng phải ở lại đối chiếu tên người và tài sản. Ta đứng trước án thờ rất lâu, nhìn chỗ trống vừa được dọn ra cho bài vị của Tô Diên. Chưa có sắc chỉ cuối cùng, nhưng không ai còn dám gọi bà là người phản quốc nữa. Tuyết rơi qua khe cửa, một hạt đậu lên mép bàn tính ngọc rồi tan mất. Ta đặt bàn tính trước chỗ trống ấy, cúi đầu nói thầm trong lòng: Mẹ, con đưa người về nhà trước. Phần đường còn lại, con sẽ không để ai đóng cửa nữa.

Khi ta bước ra khỏi từ đường, trời đã tối hẳn. Dưới hành lang dẫn ra cổng, một chiếc hoa đăng nhỏ được đặt trên bậc đá, ánh lửa bên trong run rẩy nhưng không tắt. Vân Chi đứng cạnh nó, hai tay giấu trong tay áo, chóp mũi đỏ vì lạnh. Nàng nhìn ta, cười như nhiều năm trước khi lén mở cửa từ đường đưa bánh vào; chỉ khác là cánh cửa phía sau ta không còn khóa. “Hoài Tranh,” nàng nói, “đêm nay tuyết rơi rồi. Hoa đăng thả trên nước chắc sẽ trôi chậm lắm.” Ta bước xuống bậc đá, định đáp nàng, thì A Mộc từ ngoài cổng chạy vào, trong tay giơ cao một phong thư đóng dấu kinh thành còn nguyên sáp. “Công tử, thư hỏa tốc! Là chỉ dụ về hôn sự của Tạ cô nương và Thẩm gia!” Ngọn hoa đăng dưới chân nàng chao một cái, ánh lửa kéo bóng chúng ta dài ra trên nền tuyết mới.