Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 78: Phiên Thẩm Ở Thanh Châu

Sứ giả kinh thành nói xong câu ấy, kho cũ im đến mức ta nghe thấy giọt nước cuối cùng trên mái hiên rơi xuống thềm đá. Ba người trùm đầu đã được đưa tới dịch quán, một người trong đó chỉ chịu gặp người giữ bàn tính ngọc của Tô Diên. Người giữ bàn tính ấy hiện giờ là ta. Vân Chi nhìn sắc mặt ta, không nói những lời kiểu “chàng đừng đi”. Nàng chỉ lấy từ tay áo ra một gói giấy dầu nhỏ, bên trong là nửa miếng bánh quế đã nguội. “Ăn một miếng rồi đi xử án,” nàng thấp giọng nói, “người cầm bàn tính mà đói bụng thì dễ tính nhầm lắm.” Ta nhận lấy, cắn một miếng rất nhỏ. Vị quế nguội tan trên đầu lưỡi, đủ kéo bàn tay đang lạnh của ta trở về nhân gian.

Dịch quán nằm sát nha môn Thanh Châu, sáng sớm đã bị quân kinh thành canh kín. Người trùm đầu được đưa vào gian phía sau, hai tay bị trói nhưng lưng vẫn thẳng. Khi tấm vải đen được kéo xuống, ta thấy một gương mặt già gầy đến mức xương gò má nhô hẳn ra, bên thái dương có vết sẹo dài đã cũ. Ông ta nhìn bàn tính ngọc trong tay áo ta, mắt bỗng đỏ lên. “Phu nhân quả nhiên đã đưa nó về tay công tử.” Ta không lập tức nhận câu ấy. Sứ giả hỏi tên, ông ta đáp mình họ Trịnh, từng là phu xe áp vận dưới tay Tô Diên năm Bính Thân. Sau đêm quân lương qua cửa đông, ông ta bị diệt khẩu nhưng được một ngư dân cứu, giả câm ở bến dưới. Lần này nghe tin Lục gia mở kho cứu lũ, lại thấy thẻ gỗ chữ Kính xuất hiện trong bến, ông mới liều trốn lên thuyền quan để tìm đường vào thành.

Trịnh Bá không đem tới một lời kể khiến trời đất lập tức sáng rõ. Ông nói đứt quãng, nhiều chỗ phải dừng để thở, có lúc lẫn tên người này sang tên người khác. Nhưng ông có một vật khiến mọi câu lẫn lộn trở nên đáng nghe: nửa thẻ tre ghi số xe áp vận, phần mép bị cháy, vết cắt vừa khít với một mảnh trong túi vải dầu lấy từ hốc tượng miếu cũ. Ta đặt hai mảnh thẻ lên bàn, đường gãy ráp lại thành một chữ “Đông” xiêu vẹo. Trịnh Bá run run chạm tay vào chữ ấy, rồi nói: “Đêm đó Tô phu nhân không phản quốc. Bà ấy giữ sổ, muốn đưa quân lương về kho chính. Là Thẩm Kính đổi tuyến, còn Lục gia… Lục gia có người biết nhưng đóng cửa.” Hai chữ đóng cửa rơi xuống nặng hơn cả lời buộc tội. Ta bỗng hiểu vì sao mẹ ta để lại bàn tính mà không để lại một lá thư oán trách. Có những cánh cửa đóng lại, người bên trong cũng chưa chắc còn dám nhìn tay mình.

Phiên thẩm mở ở sân trước nha môn khi mặt trời vừa lên khỏi mái ngói ướt. Sứ giả kinh thành ngồi chính giữa, quan địa phương ngồi lệch một bên, sắc mặt như người bị buộc phải ăn canh nguội trước mặt cả thành. Thẩm Kính đứng dưới thềm, quan bào không dính một hạt bùn, thần sắc vẫn bình thản đến đáng ghét. Bên trái sân, Tạ Hành Chu được đặt ngồi trên ghế thấp, Vân Chi đứng ngay sau cha mình, tay đặt lên hòm thuốc. Thanh Hành và A Mộc giữ các rương vật chứng. Ngoài cổng nha môn, dân Thanh Châu chen kín đường, có người còn khoác áo rách từ trận lũ, có người bế trẻ nhỏ chưa hết sốt. Ta nhìn họ qua khe cửa mở, rồi hiểu lời Trịnh Bá khi nãy: Thẩm Kính không sợ một cuốn sổ bằng sợ nhiều đôi mắt cùng nhìn thấy cuốn sổ đó được mở ra.

Sứ giả không vòng vo. Ông cho đọc biên bản phát hiện vật chứng ở miếu cũ, biên bản giữ Tống Kỳ tại kho cũ, lời khai người bệnh giả ở y quán, rồi yêu cầu ta trình chuỗi sổ sách. Ta bước lên, đặt bàn tính ngọc, bản đồ vận lương, mảnh sổ của Tống Kỳ, sổ kho Lục gia và hai miếng chì niêm lên án. Trước mặt quan phủ, mỗi động tác đều phải chậm hơn bình thường nửa nhịp. Chậm để người ngoài thấy, chậm để kẻ muốn cắt lời không tìm được cớ nói ta giấu tay. Ta chỉ ra ba khoản “hao do lũ” năm Bính Thân, tuyến cửa đông trên bản đồ của mẹ, vết niêm cũ khớp với bao lương độc sau lũ, và nửa thẻ tre Trịnh Bá đem tới. Chúng chỉ nằm đó, lạnh lùng như một bàn tính đã gảy xong con số cuối cùng.

Thẩm Kính nghe đến đây mới bật cười. Tiếng cười không lớn, nhưng đủ làm đám quan lại phía sau hắn như được nhắc rằng mình nên thở lại. “Lục công tử quả nhiên giỏi biến sổ nhà thành án triều đình. Nhưng bản quan cũng muốn hỏi, trong lúc Thanh Châu lũ lớn, ai cho Lục gia quyền tự mở kho, tự phát lương, tự gom dân làm chứng? Quân lương là của triều đình. Một thế gia địa phương mở kho trước rồi tìm chứng cứ sau, khác gì lấy dân tâm ép pháp độ?” Hắn quay sang sứ giả, chắp tay rất đúng lễ. “Nếu hôm nay tha cho Lục gia vì vài tiếng khóc ngoài cổng, từ nay mỗi nhà giàu trong thiên hạ đều có thể nhân thiên tai mà mở kho riêng, mua danh riêng, nuôi thế riêng. Đại nhân xét Thẩm Kính, xin cũng xét Lục gia.” Ai có quyền mở kho, người ấy có quyền viết lại danh tiếng của mình.

Ta quỳ xuống trước án, không quỳ trước Thẩm Kính. “Lục gia mở kho, có tội vượt quyền. Ta không chối.” Ngoài cổng vang lên tiếng xôn xao, Thanh Hành biến sắc, còn Vân Chi chỉ nhìn ta rất yên. Ta nói tiếp: “Nhưng trước khi mở kho, chúng ta đã gửi ba lần văn thư xin phát chẩn. Một lần bị trả vì thiếu dấu, một lần bị giữ ở bến do đường lũ, một lần do người của Thẩm đại nhân lấy danh kiểm kho niêm lại. Trong lúc chờ dấu, đê phía nam vỡ, người ở phố Hạ Thủy bắt đầu chết rét. Nếu đại nhân cho rằng giữ nguyên kho để đợi lệnh là không có tội, vậy xin cho ta hỏi, tội của người sống nhìn dân chết được ghi ở điều nào?” Quan địa phương đập bàn quát ta lộng ngôn. Ta cúi đầu nhận quát, rồi đưa sổ cứu tế lên. “Cho nên hôm nay ta không xin trắng án. Ta xin đối chiếu: Lục gia mở kho bao nhiêu, phát cho ai, còn lại bao nhiêu, hao hụt ở đâu, tất cả đều có tên người nhận, dấu tay và người chứng. Nếu có một đấu lương vào túi riêng của Lục gia, xin xử trước mặt dân.”

Cửa nha môn bỗng vang một tiếng quỳ rạp. Không phải một người, mà là rất nhiều người. Qua khe cửa, ta thấy cụ già bán trà, người chèo thuyền từng kéo bao cát, mấy phụ nhân bế con, cả những dân phu được Lục gia thuê gia cố đê, tất cả lần lượt quỳ xuống. Một người đàn ông khàn giọng hô: “Là chúng tôi xin Lục gia mở kho!” Rồi tiếng thứ hai, thứ ba nổi lên, thật đến mức không ai trong sân dám giả vờ không nghe. “Muốn trị tội thì trị cả Thanh Châu!” Vân Chi khẽ hít một hơi sau lưng cha nàng. Ta không quay đầu, nhưng biết mắt nàng hẳn đã đỏ. Dân tâm không phải lá chắn để khoe công, mà là món nợ cả đời sau không được phép tính sai.

Sứ giả kinh thành để tiếng dân ngoài cổng vang hết một lượt mới giơ tay. Ông không tuyên Lục gia vô tội, cũng không cho Thẩm Kính thắng đòn này. Ông chỉ nói: “Tội mở kho xét riêng. Trước mắt xét quân lương Bính Thân và lương độc sau lũ.” Một câu ấy như lưỡi dao chém đứt sợi dây Thẩm Kính vừa ném ra. Tạ Hành Chu được gọi lên. Ông vịn tay Vân Chi đứng dậy, vai áo thấm máu, nhưng khi nói về đêm Tô Diên được đưa tới y quán, giọng lại rõ hơn ta tưởng. Ông nhận mình từng sợ, từng giấu, từng đổi một phần mạch án dưới ép buộc. Trịnh Bá xác nhận xe lương đi qua cửa đông cùng đêm đó. Người bệnh ở y quán, sau khi được Vân Chi cứu tỉnh, cũng ký lại lời khai rằng mình được dạy phải vu Tạ gia đổi thuốc và gán tội cho Lục gia. Ba lời khai không giống nhau hoàn toàn, chính vì thế mới không có mùi được một người viết sẵn.

Thẩm Kính cuối cùng nhìn ta lâu hơn một nhịp. Ánh mắt ấy không còn chỉ là khinh miệt. Có lẽ hắn đang tính xem nếu đánh gãy một mắt xích, tấm lưới này còn bao nhiêu mắt. Rồi hắn nói: “Một lão phu xe mất tích mười mấy năm, một đại phu tự nhận từng sửa mạch án, một người bệnh mới vừa được Tạ gia cứu, tất cả đều có thể bị Lục gia mua chuộc. Còn Tô Diên thì sao? Người chết không thể tự biện.” Ta đặt tay lên bàn tính ngọc. Những hạt tính lạnh chạm vào lòng bàn tay, giống một lời nhắc rằng mẹ ta đã đi xa rất lâu, xa đến mức ta chỉ có thể bảo vệ bà bằng những thứ bà để lại. “Người chết không thể tự biện,” ta nói, “nhưng người sống từng đóng cửa trước lời biện của bà thì có thể.”

Câu ấy vừa dứt, phía cuối sân có tiếng gậy gõ xuống nền đá. Đám người Lục gia tách ra rất nhanh. Lục Sùng mặc áo xám, không đội khăn gia chủ, tóc bạc được buộc qua loa sau gáy. Ông đi từng bước chậm, nhưng không cần ai dìu. Ta nhìn ông, trong lòng không nhẹ đi, cũng không hận thêm. Có những món nợ đặt quá lâu, đến lúc rút ra, người trả và người nhận đều chảy máu. Sứ giả kinh thành nhíu mày: “Lục lão gia chủ, ông đến làm chứng?” Lục Sùng nhìn ta trước, rồi nhìn bàn tính ngọc trên án. Trong khoảnh khắc ấy, ta không còn thấy gia chủ cũ từng khiến cả từ đường lạnh như đá, chỉ thấy một ông già đã im lặng mười mấy năm và bị chính sự im lặng ấy nghiền cong lưng.

Ông bước tới giữa sân, quỳ xuống. Tiếng đầu gối chạm đá không lớn, nhưng trong tai ta như một cánh cửa cũ cuối cùng bị mở ra. Lục Sùng dập đầu một cái về phía án thẩm, rồi nói từng chữ: “Tô Diên không phản quốc. Người năm đó che giấu lời khai của nàng, giữ lại sổ gốc, đóng cửa Lục gia trước người truy sát… là lão phu.” Ngoài cổng nha môn, tiếng dân lặng đi như bị gió cuốn sạch. Thẩm Kính nghiêng mặt, nét bình thản trên mặt hắn lần đầu tiên nứt ra rất rõ. Còn ta đứng giữa sân thẩm Thanh Châu, tay đặt trên bàn tính của mẹ, bỗng nghe thấy trong lòng mình một tiếng hạt tính rơi xuống. Không phải tiếng thắng. Là tiếng món nợ mười mấy năm bắt đầu được gọi đúng tên.