Chương 77: Sổ Sách Không Biết Nói Dối
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcKho cũ của Lục gia sáng đèn suốt nửa đêm. Khi chúng ta đưa Tống Kỳ về tới nơi, mưa vẫn rơi, nhưng không còn ào ạt như lúc ở miếu cũ, chỉ lặng lẽ gõ lên mái ngói từng nhịp mỏng và lạnh. Người giữ kho muốn kéo hắn xuống hầm sau, Thanh Hành cũng cau mày nhìn vết máu trên vai Tạ Hành Chu, rõ ràng trong lòng đang có mấy câu rất muốn mắng. Ta đặt mảnh sổ ẩm nước lên bàn, rồi nói trước khi bất kỳ ai mở miệng: “Không đánh, không ép cung, không đóng cửa.” Thanh Hành quay phắt sang nhìn ta. Ta biết hắn nghĩ gì. Một kẻ vừa định giết người trước mặt chúng ta, nếu không cạy miệng ngay thì quá uổng. Nhưng chính vì Tống Kỳ là tâm phúc của Thẩm Kính, miệng hắn càng không đáng tin bằng tay áo, dấu dây, tuyến xe và những con số hắn tưởng đã chết trong sổ cũ.
Ta cho người nhóm thêm ba ngọn đèn, mở cửa kho phía trước, để đội cứu lũ ngồi ngoài hiên uống nước gừng. Họ không vào nghe việc cơ mật, nhưng đủ gần để nhìn thấy Tống Kỳ còn sống, không bị tra tấn, không bị Lục gia giấu đi xử riêng. Trong một đêm nhiều bẫy như thế này, có đôi khi một cánh cửa mở còn có giá hơn mười thanh đao. Tống Kỳ bị trói vào ghế, áo ướt dính sát người, mặt vẫn giữ được vẻ bình tĩnh đáng ghét. Hắn liếc qua bàn sổ sách, cười khàn: “Lục công tử thật biết làm dáng. Một mảnh giấy mục mà cũng bày trận như xử án.” Ta không đáp ngay. Người làm văn thư sợ nhất không phải dao, mà là nhìn thấy người khác đọc đúng thứ mình từng cố giấu.
Tạ Vân Chi đến muộn hơn nửa khắc. Nàng bước qua ngưỡng cửa, tay áo còn lấm thuốc và máu, nhưng mắt rất tỉnh. Phía sau nàng là tiểu đồng y quán, ôm một bản lời khai mới có dấu tay run rẩy của người bệnh giả làm thuộc hạ Mạnh Cửu. Thấy cha mình nằm trên giường tre bên cạnh, vai đã được băng qua loa, Vân Chi chỉ khựng lại một nhịp. Nàng không khóc, cũng không lao tới làm rối tay đại phu. Nàng đi thẳng đến bên ta, đặt bản lời khai xuống, rồi thấp giọng nói: “Hắn nhận mình được một người mang thẻ gỗ chữ Kính thuê. Tiền trả trước là nửa đồng đen giống cái chàng nhặt được.” Nói xong, nàng mới nhìn bùn trên người ta, mím môi. “Chàng có thể tính cả Thanh Châu, nhưng lần sau đừng tính thiếu bộ áo khô cho mình.” Câu trách nhẹ ấy làm ngực ta bỗng ấm lên giữa mùi giấy ẩm và dầu đèn. Ta gật đầu, nhận chén thuốc nàng dúi tới. Đắng đến mức người sống cũng muốn tỉnh thêm một đời.
Chúng ta bắt đầu ghép sổ từ canh tư. Trên bàn dài có sổ kho Lục gia trước lũ, sổ phát chẩn sau lũ, bản đồ vận lương giấu trong bàn tính ngọc, mảnh sổ trong ngực Tống Kỳ, lời khai của Tạ Hành Chu, lời khai người bệnh ở y quán, nửa đồng tiền đen và thẻ gỗ chữ Kính. Nếu chỉ nhìn từng thứ riêng lẻ, cái nào cũng có thể bị Thẩm Kính phủ nhận. Sổ Lục gia có thể bị nói là tự sửa, lời khai Tạ Hành Chu có thể bị nói là chuộc tội, người bệnh có thể bị nói là bị mua chuộc ngược. Nhưng sổ sách chưa bao giờ sống một mình. Một khoản lương đi qua cửa đông phải có xe, có người áp vận, có bến nhận, có hao hụt, có ngày mưa nắng, có người ký thay khi quan chính không xuất hiện. Giống một người nói dối trong phòng đông người: hắn có thể giấu biểu cảm của mình, nhưng không thể bắt nhịp thở của tất cả mọi người cùng sai.
Ta lấy than vạch ba cột lớn trên ván gỗ: nhập kho, chuyển tuyến, hao hụt. Thanh Hành đứng cạnh, ban đầu còn nhíu mày, sau đó càng nhìn càng im. Hắn từng ghét ta dùng mấy cách ghi chép “như thương nhân keo kiệt”, nhưng giờ chính những dòng thẳng hàng ấy kéo vụ án khỏi bùn. Mảnh sổ của Tống Kỳ ghi ba khoản lương năm Bính Thân chuyển qua cửa đông, mỗi khoản đều dùng chữ “hao do lũ”. Sổ kho Lục gia cùng năm ấy cũng có ba khoản hao bất thường, nhưng ngày tháng bị lùi đúng hai ngày. Bến nhận ở bản đồ của mẹ ta lại đánh dấu tuyến phụ vòng qua miếu cũ, không đi đường quan. Tạ Hành Chu nghe ta đọc tới khoản thứ hai thì siết chặt mép chăn, giọng khàn đến gần như vỡ: “Đêm Tô phu nhân được đưa tới y quán, bên ngoài cũng có xe lương đi qua cửa đông. Ta nghe tiếng bánh nặng, tưởng là quan phủ cứu tế, về sau mới biết trong thành không hề phát lương đêm đó.”
Tống Kỳ cuối cùng không cười nữa. Hắn nhìn Tạ Hành Chu, rồi nhìn sang ta: “Một lão đại phu nhớ tiếng xe mười mấy năm trước, cũng tính là chứng cứ?” Ta nhấc thẻ gỗ chữ Kính lên, để nó nằm cạnh dấu tay trong lời khai của người bệnh. “Không. Cho nên ta không hỏi ông ấy nhớ được bao nhiêu. Ta chỉ hỏi vì sao lời nói của ông ấy khớp với dấu bánh xe đêm nay, khớp với thẻ gỗ ngươi mang, khớp với nửa đồng tiền đen dùng để mua người chết giả, và khớp với mảnh sổ trong áo ngươi.” Ta dừng một nhịp, nhìn thẳng vào mắt hắn. “Ngươi không cần khai. Sổ sách đang khai thay ngươi.”
A Mộc trở về gần lúc trời sắp rạng. Hắn đi cùng hai người đội cứu lũ và một lão giữ miếu ở cửa đông, trên tay ôm một túi vải dầu bọc trong bùn. Thanh Hành đã cho người quay lại miếu cũ kiểm tra hốc sau tượng theo lời Tạ Hành Chu, lần này có người ngoài làm chứng, từng lớp bùn được cạo ra trước mắt mọi người. Trong túi không có vàng bạc, cũng không có thứ gì đủ để lập tức chém đầu một vị quan. Chỉ có mấy thẻ tre mục, hai mảnh giấy dầu và một miếng chì niêm của kho quan năm Bính Thân. Ta cầm miếng chì lên, lau lớp bùn trên mặt. Dấu triện đã mờ, nhưng góc dưới còn một vết nứt hình móc câu. Thanh Hành lập tức đổi sắc mặt. “Dấu này giống miếng chì niêm trên bao lương độc chúng ta thu được sau lũ.” Ta nhìn hắn. Lần này hắn không cần ta giải thích nữa, tự quay đầu sai người lấy bao vật chứng còn giữ trong kho.
Hai miếng chì đặt cạnh nhau, vết nứt ở góc dưới gần như trùng khít. Một là dấu cũ năm Bính Thân, một là dấu mới dùng trên bao lương bị rút ruột sau trận lũ. Mười mấy năm cách nhau, cùng một kiểu niêm, cùng một tuyến cửa đông, cùng một bàn tay quen dùng hao hụt và thiên tai để nuốt lương. Thẩm Kính không phải bỗng nhiên ra tay với Lục gia trong mùa lũ này. Hắn chỉ đang dùng lại con đường từng giúp hắn chôn Tô Diên. Vân Chi đứng bên cạnh ta, sắc mặt trắng đi, nhưng giọng nàng rất vững: “Nếu vậy, người bệnh kia không chỉ là cái bẫy hại y quán. Hắn là bản nháp cho cách họ dựng một lời khai giả. Năm xưa cha ta bị ép đổi mạch án, cũng có thể đã có người bệnh, người chết, hoặc giấy chẩn bị thay.” Tạ Hành Chu nhắm mắt, nước mắt rơi xuống thái dương già nua. Ông không biện minh. Có lẽ đối với ông, bị sự thật cắt thêm một nhát còn nhẹ hơn tiếp tục để nó mục trong lòng.
Tiếng vó ngựa vang ngoài kho khi đèn trời vừa nhạt. Người của sứ giả kinh thành tới trước, Thẩm Kính tới sau. Hắn mặc quan bào chỉnh tề như thể cả đêm mưa máu ngoài kia chỉ là chuyện hạ nhân vụng về làm bẩn sân. Vừa bước vào, hắn đã nhìn Tống Kỳ, rồi nhìn ta, giọng bình thản: “Lục Hoài Tranh, ngươi tự ý giam người của quan phủ, lại bày sổ riêng vu cáo mệnh quan triều đình. Ngươi muốn cứu Lục gia, hay muốn kéo cả tộc xuống cùng?” Câu ấy rất hay. Nếu ta vội cãi, hắn sẽ kéo mọi thứ về tội chống quan. Ta chỉ lùi nửa bước, nhường bàn sổ cho vị sứ giả áo xanh đứng sau hắn. “Đại nhân đến đúng lúc. Lục gia không xét người, chỉ giữ vật chứng trước khi bị thiêu cùng nhân chứng. Tống Kỳ có khai hay không, xin đại nhân tự xem sổ.”
Sứ giả kinh thành vốn lạnh mặt, nhưng khi ánh mắt ông ta đi qua ba cột nhập kho, chuyển tuyến, hao hụt, lại chậm lại rất rõ. Ta không nói dài. Ta chỉ chỉ từng hàng: mảnh sổ của Tống Kỳ, sổ kho Lục gia, bản đồ trong bàn tính ngọc, chì niêm từ hốc tượng, chì niêm bao lương độc, lời khai y quán. Mỗi thứ tự nó đều mỏng, nhưng đặt đúng vị trí thì thành một tấm lưới. Thẩm Kính cười nhạt: “Sổ có thể sửa, dấu có thể giả.” Ta gật đầu. “Đúng. Cho nên ta đã mời người đội cứu lũ, lão giữ miếu, người giữ kho và tiểu đồng y quán cùng ký vào biên bản phát hiện từng vật. Nếu đại nhân cho rằng tất cả dân Thanh Châu đều thông đồng với Lục gia trong một canh giờ, vậy xin mở phiên thẩm công khai, để họ tự nói trước dân chúng.” Lần đầu tiên trong đêm nay, khóe miệng Thẩm Kính hạ xuống.
Sứ giả kinh thành đặt mảnh sổ xuống, ngón tay gõ nhẹ lên hàng chữ “hao do lũ” đã nhòe mực. Một tiếng rất khẽ thôi, nhưng cả kho cũ im đến mức ai cũng nghe thấy. Ông ta quay sang Thẩm Kính, giọng không còn là giọng người nghe một bên tố cáo một bên chống chế. “Thẩm đại nhân, vụ mở kho cứu lũ của Lục gia tạm gác đến phiên thẩm. Trước hết bản quan muốn biết, quân lương năm Bính Thân vì sao đi qua cửa đông, vì sao miếng chì niêm cũ lại cùng vết với lương quan năm nay, và vì sao tâm phúc của ngài xuất hiện ở miếu cũ cùng nhân chứng sắp chết.” Thẩm Kính không trả lời ngay. Tống Kỳ cúi đầu, vai cứng như gỗ.
Ta thở ra rất chậm. Bàn tính trong lòng đã rơi được một nửa, nhưng nửa còn lại vẫn treo lơ lửng trên đầu Lục gia. Sổ sách có thể làm người ta im miệng, chưa chắc đã làm người ta nhận tội. Đúng lúc ấy, một thị vệ kinh thành bước vào, cúi người bên tai sứ giả nói vài câu. Sứ giả nhìn ta, ánh mắt đổi hẳn. “Ba người trùm đầu trên thuyền quan đã được đưa tới dịch quán. Một người trong đó nói, trước khi mở phiên thẩm, hắn chỉ chịu gặp người giữ bàn tính ngọc của Tô Diên.” Máu trong tay ta như lạnh đi. Vân Chi đặt tay lên cổ tay ta, rất nhẹ, nhưng đủ kéo ta đứng yên. Ngoài kho, mưa đã tạnh. Trời Thanh Châu trắng bệch trước bình minh, còn ta biết chương cuối của cuốn sổ năm xưa rốt cuộc sắp được mở ra.
