Bỏ qua nội dung

Chương 19: Người không có trong danh sách

Minh không trả lời câu cuối của Hà An ngay. Anh nhìn bảng dữ liệu còn mở trên màn hình. Biết mình chưa biết gì không làm dự án dễ hơn, nhưng ít nhất những khoảng trống đã lộ ra.

Đầu tuần sau, Ban điều phối gửi lịch xác minh riêng tại Tân Phúc cho nhóm quầy không xuất hiện trong danh sách hỗ trợ sơ bộ. Phạm vi chỉ gồm lịch sử sử dụng, nguồn chứng từ và cách phân loại; nghĩa vụ pháp lý phải chờ rà soát chuyên môn. Minh chuyển lịch cho Thu Dung và Hoài Nam.

Buổi làm việc diễn ra ở phòng phía sau văn phòng vận hành Tân Phúc. Hồ Nhật Phong giữ biên bản, Lê Quốc Đạt ngồi bên phía Tân Phúc. Nguyễn Văn Nghiêm đến với chiếc túi nhựa trong quen thuộc, hôm nay dày hơn những lần trước.

Ông đặt túi xuống bàn. “Lần trước các anh hỏi tôi có gì ngoài sổ phí. Tôi về lấy lại những thứ còn giữ được.”

Phong nhắc lại phạm vi sử dụng. Nghiêm lấy ra bản sao biên nhận phí quản lý, giấy ghi khoản thu theo tháng và hai sơ đồ cũ. Bản gốc vẫn do các hộ giữ; bản sao được nộp qua Ban điều phối.

Minh không nhìn con số tiền trước. Anh nhìn ngày.

Những mốc thời gian đủ xa để bác bỏ cách giải thích thuận tiện nhất: đây không phải toàn bộ những quầy mới phát sinh gần đây. Có bộ chứng từ kéo dài hơn năm năm, có vị trí trên sơ đồ cũ trùng với thực địa anh từng thấy. Không phải cả ba mươi bảy quầy đều có chuỗi giấy tờ giống nhau, nhưng đủ nhiều để chữ “tạm” trở nên khó hiểu.

Hoài Nam kéo bảng đối chiếu lại gần, lần lượt đánh dấu vị trí thay vì cộng tiền. “Chú Nghiêm, những số quầy này có đổi người sử dụng trong thời gian đó không?”

“Có chỗ đổi người trong nhà, có chỗ sang lại việc bán.” Nghiêm đáp. “Tôi không nói ba mươi bảy chỗ giống nhau. Tôi chỉ nói nhiều chỗ đã ở đó lâu hơn cái danh sách này.”

Thu Dung ngẩng lên khỏi một bản biên nhận. “Các khoản này là phí quản lý, không phải tiền thuê ghi nhận quyền sử dụng dài hạn. Tôi cần tách hai việc đó ngay từ đầu.”

Nghiêm nhìn cô một lúc rồi gật. “Tôi cũng không bảo cứ đóng phí là thành hợp đồng. Nhưng nếu người ta thu tiền đều, biết quầy nằm ở đâu, biết ai bán ở đó, đến lúc tính chuyện di dời lại bảo đây là chỗ tạm nên không có trong danh sách, tôi không hiểu nổi.”

Minh khó chịu chính ở chỗ đó. Chứng từ chưa giải quyết câu hỏi pháp lý, nhưng nó phá vỡ sự tiện lợi của một cách phân loại: ba mươi bảy quầy không còn chỉ là phần chênh giữa thực địa và danh sách.

Quốc Đạt khép tập sơ đồ. “Tân Phúc không phủ nhận đã thu phí quản lý. Nhưng danh sách hỗ trợ sơ bộ xây trên hồ sơ thuê và các quyền sử dụng được ghi nhận chính thức. Nếu trộn hai nhóm, chúng ta đang kết luận về nghĩa vụ khi chưa có căn cứ.”

Dung đánh dấu bên lề bản sao. “Thu phí cho thấy có quản lý và sử dụng thực tế, nhưng không làm quyền của từng quầy giống nhau. Muốn biết nghĩa vụ tối thiểu, tôi cần xem căn cứ sử dụng và các thông báo liên quan.”

“Còn nếu chỉ hỏi họ có tồn tại trong vận hành không?” Minh hỏi.

Dung đặt bút xuống. “Câu đó thì bộ chứng từ hôm nay đã cho nhiều hơn trước. Nhưng tồn tại trong vận hành và có một quyền pháp lý cụ thể vẫn là hai kết luận khác nhau.”

Minh gật. Trộn hai câu hỏi chỉ khiến vấn đề bị đẩy sang hai cực: hoặc coi ba mươi bảy quầy giống hệt nhóm trong danh sách, hoặc vì chưa xác định được quyền mà coi họ như bằng không.

Hồ Nhật Phong hỏi: “Vậy đề nghị xử lý của Thành Nam là gì?”

Minh nhìn hai sơ đồ cũ cạnh danh sách mới hơn. Chúng không chứng minh động cơ của ai, nhưng đủ cho một câu hỏi thực tế: nếu dự án đóng khu vực, những người đang bán ở đó sẽ không biến mất chỉ vì tên họ không nằm trong danh sách.

“Tách thành hai việc.” Anh kéo tờ biên bản về phía mình. “Pháp lý do chị Dung xác định theo từng nhóm căn cứ, trước mắt cho biết nghĩa vụ tối thiểu nào có thể phát sinh. Không mặc định ba mươi bảy quầy có cùng tư cách.”

Phong chờ anh nói tiếp.

“Còn vận hành và chi phí thì không chờ.” Minh quay sang Hoài Nam. “Đưa cả nhóm vào kịch bản chi phí khi đóng và chuyển tiếp. Ghi rõ đây là kịch bản, không phải nghĩa vụ đã xác nhận. Từ bây giờ không để chi phí của họ bằng không chỉ vì danh sách không có tên.”

Hoài Nam hỏi: “Mình dùng cùng một mức hỗ trợ như nhóm chính thức không?”

“Không. Chưa có căn cứ thì không giả định giống nhau.” Minh đáp. “Phần hỗ trợ tài chính cụ thể chờ Dung xác định và Ban điều phối xác nhận.”

Quốc Đạt hơi nhíu mày. “Như vậy Thành Nam vẫn đang tăng chi phí cho một nhóm chưa được xác định nghĩa vụ.”

“Đúng.” Minh nhìn thẳng sang ông. “Nếu ba mươi bảy điểm bán còn hoạt động vào ngày bàn giao, phương án của tôi phải xử lý việc họ đang ở đó. Còn họ được hưởng gì, ở mức nào, dựa trên căn cứ nào, đó là câu hỏi khác.”

Minh biết lựa chọn này sẽ làm mô hình Thành Nam nặng thêm. Nhưng sau bản khảo sát gốc, anh đã khó quay lại cách làm trong đó mọi điều chưa xác nhận đều mặc nhiên được đặt về phía thuận lợi nhất.

Nghiêm xoay một sơ đồ về phía Minh. “Chỗ này. Năm năm trước đã có người thu phí. Có quầy chuyển người bán, nhưng chỗ không mất. Hồi các anh tới khảo sát, nó vẫn ở nguyên.”

Minh nhớ dãy quầy ấy. Ngày đầu, anh chỉ ghi chúng như chênh lệch so với bản đồ. Bây giờ từng vị trí bắt đầu có lịch sử, dù lịch sử đó chưa thể tự biến thành quyền.

“Chú cho Ban điều phối giữ bản sao này trong hồ sơ xác minh nhé. Nếu cần thêm, chị Dung sẽ gửi yêu cầu đúng đầu mối. Bản gốc chú cứ giữ.”

Nghiêm không thu sơ đồ lại ngay như những lần trước. Ông nhìn Minh, rồi nhìn Dung. “Tôi giữ bản gốc. Bản sao các anh cứ để trong biên bản.”

Đó chưa phải sự ủng hộ. Nhưng sự dè chừng của Nghiêm đã bớt đi một chút, vừa đủ để ông để tài liệu nằm lại trên bàn khi Phong đánh số phụ lục.

Dung đề nghị Tân Phúc cung cấp căn cứ phân loại “điểm bán tạm” và các thông báo liên quan. Quốc Đạt đồng ý trong phạm vi hồ sơ còn lưu, nhưng nhắc rằng cung cấp tài liệu không đồng nghĩa thừa nhận nghĩa vụ. Phong ghi rõ giới hạn đó.

Minh không phản đối. Anh càng không muốn đổi một nhãn quá rộng bằng một nhãn quá rộng khác.

Hoài Nam hoàn tất bảng đối chiếu theo vị trí, chỉ ghi những gì chứng từ thực sự thể hiện: thời điểm thu phí, sơ đồ có xuất hiện và khoảng trống chưa giải thích. Không có cột nào ghi “đủ quyền” hay “không đủ quyền”.

Khi Phong đọc lại biên bản, ba điểm được giữ: nhóm này không phải toàn bộ phát sinh gần đây; nhiều vị trí có lịch sử sử dụng và thu phí trên năm năm; tư cách và nghĩa vụ pháp lý vẫn phải xác minh. Thành Nam ghi thêm rằng mô hình vận hành sẽ không tiếp tục coi nhóm đó bằng không.

Nghiêm đứng lên sau cùng. Ông xếp lại túi nhựa, lần này nhẹ hơn vì một phần bản sao đã được giữ trong hồ sơ. Trước khi ra cửa, ông dừng cạnh Minh.

“Tôi không cần anh hứa họ giống những người có hợp đồng.” Ông nói. “Tôi chỉ cần lúc các anh tính cách đóng chợ, đừng coi những người không có tên là không có ở đó.”

Minh gật. “Phần đó tôi có thể chịu trách nhiệm trong phương án của mình. Phần còn lại phải chờ căn cứ.”

Nghiêm không cảm ơn. Ông chỉ gật lại rồi đi ra ngoài, nhưng cử chỉ ấy đã khác những buổi đầu.

Trên đường trở lại, Hoài Nam hỏi có cần thay ngay con số lợi nhuận đang trình nội bộ không. Minh bảo cậu giữ số hiện tại với ghi chú chưa xác minh, đồng thời thêm kịch bản có ba mươi bảy quầy.

Dung lật lại danh mục tài liệu vừa nhận. “Tôi sẽ bắt đầu từ nghĩa vụ tối thiểu, không từ câu hỏi họ có phải người thuê chính thức hay không.”

Minh nhìn qua cửa kính xe. Dự án này đầy những từ có thể đúng trong một phạm vi hẹp: xác định, tạm thời, sẵn có, đồng thuận. Vấn đề bắt đầu khi phạm vi ấy bị quên đi đúng lúc nó làm chi phí thấp hơn và tiến độ đẹp hơn.

Anh không biết cuối cùng ba mươi bảy quầy sẽ được xác định nghĩa vụ đến đâu. Nhưng từ hôm nay, chúng đã không còn vô hình trong phương án Thành Nam.

Minh hiểu chữ “tạm” có thể tồn tại rất lâu nếu nó giúp ai đó đỡ phải tính chi phí.