Bỏ qua nội dung

Chương 75: Tội Danh Của Lễ

Tiếng chuông thứ hai còn rung dưới mái thiên điện khi nét mực dưới tên Lý Cảnh Diễn chưa kịp se. Đỗ Nghiêm đặt tờ danh sách xuống giữa án, cho hai lục sự đối lại số phong niêm rồi khóa hai phong vào hộp đồng. Một chìa giao cấm vệ, một chìa giao Nội Lễ ty. Hoàng hậu nhìn bàn tay Thái tử rời khỏi cán bút, giọng không cao. “Đã nhận làm chứng thì chỉ nói điều con tận mắt biết.” Cảnh Diễn cúi đầu. “Nhi thần cũng chỉ xin triều đình nghe đến nơi điều đã có người ký.” Tưởng Thừa Ân không đổi sắc. Hắn chỉ yêu cầu ghi: từ lúc rời thiên điện đến lúc mở lại, hai phong niêm không được qua tay riêng. Tạ Uyển hiểu hắn vẫn giữ lấy vũ khí cuối cùng: nguồn gốc chứng cứ.

Nội thị truyền khẩu dụ đến ngay trước hồi chuông thứ ba. Bệ hạ cho mở nghị khẩn, chỉ gọi Lễ bộ, Binh bộ, Võ bị thư phòng, Đông cung, Nội Lễ ty và những người có tên trong biên bản điện tế tiễn. Sứ đoàn Bắc Yên tiếp tục ở khách điện; lời ký của Hạ Lan Việt được đưa vào nghị, người không được vào. Chiêu Nghi không có ghế giữa hàng quan. Nàng được đặt sau một lớp rèm mỏng bên hữu điện với tư cách người nhận lễ chưa thành. Trước khi chuyển bước, nàng chỉ nhìn Tạ Uyển một lần. Cả hai đều biết từ lúc này, một ánh mắt lâu hơn cần thiết cũng có thể bị chép thành thứ khác.

Hai phong niêm được mở trước ngự tọa theo đúng thứ tự đã lập ở điện tế tiễn. Binh bộ không đọc lại toàn bộ, chỉ đối những chỗ khác nhau. Bản công khai thiếu khuyết nhận ở cuối thức quốc tín; tờ lụa dưới lớp nỉ có phần nhận đủ, dấu hai vòng mây khuyết một chấm ở góc phải và phụ khoản giao đồ bản ba đồn, tuyến chuyển lương Đông Trấn sau khi lễ thành. Mẫu son cũ đã niêm từ cán trâm được đưa ra đối. Viên chủ sự Võ bị nói rất chậm: “Hình thức ấn cùng loại, khuyết chấm trùng vị trí. Chỉ có thể chứng cùng mẫu ấn, chưa thể chứng ai đóng và đóng lúc nào.” Tưởng lập tức tiếp lời. “Vậy càng không thể gọi tờ dưới nỉ là quốc thư đã phê. Dòng ‘bản nghị tại Đông các’ chỉ là ký chú của một bản nghị thảo. Không có ngự phê, không có sổ giao, một tờ nghị thảo dù mang dấu cũng không thành quốc tín.”

Không ai bác được câu ấy ngay. Tạ Uyển nhìn hai mép lụa cách nhau chưa đầy một gang tay. Bệ hạ hỏi Đỗ Nghiêm về nơi phát hiện. Đỗ Nghiêm đọc biên bản: bản kê ấn gỗ du số bảy, lớp nỉ rời, vật nằm dưới nỉ, mở trước song lục sự, Tưởng Thừa Ân giám lễ, Chiêu Nghi là người nhận, Hạ Lan Việt chứng kiến. Khi được hỏi Tạ Uyển biết vật từ bao giờ, hắn cũng đọc nguyên lời nàng đã nhận. Không thêm một chữ “giấu”, cũng không bớt một chữ “đã thấy”.

Tưởng quay sang nàng. “Tạ nữ quan, ngươi đã thấy thức quốc tín trước đại lễ, lại không báo. Hôm nay tờ ấy trở thành vật cứu một cuộc hòa thân mà ngươi nhiều lần xin hoãn. Chẳng lẽ không nên hỏi ai đã có thời gian chạm vào nó?” Tạ Uyển cúi người. “Nên hỏi.” Nàng không tránh. “Cho nên thần xin không lấy lời thần làm chứng cho nguồn gốc tờ lụa. Xin đối đường chuyển bản kê số bảy, người áp vận và giờ niêm.” Tưởng muốn buộc nàng bảo vệ chính mình; nàng lại đặt mình ra khỏi phần cần được tin.

Khẩu dụ triệu Phó Cẩn được thi hành ngay trong lúc hai bên đối văn thư. Hắn bị dẫn vào với khóa cổ tay đã đổi sang dây niêm đối chứng, phía sau có lục sự Đông giám và cấm vệ nhận người bằng tên. Phó quỳ, xác nhận lại lời khai đã ký ở Tây khố: thẻ áp vận hòm số bảy mang chữ giống hắn nhưng được lập vào giờ hắn đang bị giam; Trần Túc dùng thẻ phòng Tưởng có góc phải sứt và dây đen để truyền lệnh; trước vụ cháy, hắn từng thấy hộp tử đàn bọc lụa vàng, có dấu hai vòng mây khuyết một chấm, được chuyển qua công đạo thứ bảy khỏi tuyến kho nam. Sổ giam Đông giám được đưa ra ngay sau đó. Giờ khóa người và giờ trên thẻ áp vận chồng lên nhau gần nửa canh.

Tưởng chỉ hỏi một câu. “Ngươi có nghe chính miệng ta ra lệnh chuyển hộp ấy không?” Phó Cẩn im một nhịp. “Không.” “Có thấy ta cầm hộp?” “Không.” “Vậy lời ngươi chứng được thẻ giả và người phòng ta bị dùng, không chứng được ta sai khiến.” Tưởng quay về ngự tọa. “Một người chờ thẩm có thể nói thật một nửa để đổi lấy nửa đường sống. Thần xin triều đình đừng dùng khoảng trống còn lại để điền tên thần.”

Đến lượt sổ lễ mật, bản sao chọn lọc có ba niêm được đưa tới. Tạ Uyển chỉ xin đọc những dòng có thể đối vật: “Tưởng thị lang” nhận bảy hộp kim sức Bắc nghi, vật đối là bản luân phòng ba trấn; “Bắc nghi phụ danh” có hòm thứ bảy không đề tên, bị cấm cân lại; thứ tự bốn hòm đầu và lỗi chữ “não” thiếu một chấm trùng với danh mục hòa thân hiện tại. Binh bộ nhận lại bản đối chiếu cũ. Một viên quan tóc đã bạc nói: “Mười hai năm trước, Tưởng đại nhân quả giữ chức thị lang.” Tưởng không phủ nhận. Hắn chỉ nói cuốn mật sổ không phải đại sổ chính, người chép có thể gán tên; còn việc danh mục hiện tại chép theo khuôn cũ có thể chứng kẻ làm giả biết hồ sơ năm xưa, không đương nhiên chứng người năm xưa đang làm lại việc cũ.

Tạ Uyển thấy đường lui của hắn vẫn còn, nhưng đã hẹp. Quốc thư chưa định nguồn; Phó Cẩn chưa chạm tới Tưởng; mật sổ có thể bị gọi là sổ lậu. Chỉ khi đặt cạnh nhau, những khe nghi ngờ mới không còn cùng hướng. Nàng chờ đến khi được hỏi mới nói: “Thần không xin lấy ba điều chưa đủ ghép thành một tội đủ. Thần xin đối thêm một vật thứ tư, cũng bằng quy chế cũ.”

Tưởng nhìn nàng trước cả khi bệ hạ hỏi. Hắn đã biết nàng muốn gì.

“Hương án thứ ba ở điện tế tiễn.” Tạ Uyển nói. “Thư của phụ thân thần ghi dưới chân phía tây có một ống đồng bọc sáp, trong đó là phiếu đối tuyến ba dấu. Phiếu thử tải của hương án đã lập trước đại lễ, hiện chỉ ‘tạm đình’, chưa hủy. Thần chưa từng chạm đế án. Nếu lời thư là giả, mở theo đúng lệ sẽ không có gì. Nếu có vật, nó được mở trước Nội Lễ, Giám lễ và cấm vệ, không phải trước tay Tạ gia.”

Tưởng lần đầu hơi siết ngón tay trong tay áo. “Phụ thân ngươi để thư, em ngươi giữ thư, ngươi xin mở vật đúng nơi thư chỉ. Nếu lại tìm được chứng cứ, chẳng phải mọi đường vẫn quay về Tạ gia?” Tạ Uyển đáp: “Vì vậy thần không xin đi mở.” Nàng ngẩng mắt vừa đủ. “Xin người của ba ty đi. Thần ở đây.”

Ngự lệnh được hạ xuống.

Khoảng chờ chưa đầy một tuần hương dài hơn cả đêm đại lễ. Không ai được rời điện. Chiêu Nghi vẫn ngồi sau rèm. Khi người đối kiểm trở lại, ống đồng được đặt trên khay gỗ, bên ngoài còn lớp sáp cũ sạm màu. Biên bản thử tải đi kèm ghi trọng lượng lệch, chân phía tây có đinh đồng đóng ngược, nắp đáy trượt vào trong đúng như thư. Ba dấu trên phiếu bên trong lần lượt thuộc kho quân lương Tĩnh Bắc, công tạo Lễ bộ và phụ khố hữu. Binh bộ đem số xe đối với sổ tồn cũ, xác nhận có một lượt xe nghi trượng vào nhiều hơn lượt xe ra đúng ngày tiếp ngoại thư năm Thừa Đức thứ tư.

Một vị đại thần hỏi: “Phiếu này chứng điều gì?”

Tạ Uyển chưa kịp đáp, viên chủ sự Binh bộ đã nói: “Chứng ít nhất một việc: mười hai năm trước, vật lễ từng che đường chuyển quân vật, và việc đó để lại ba dấu độc lập không nằm trong nhà họ Tạ.” Hắn đặt phiếu cạnh bản sao mật sổ. Số xe và ngày tháng khớp với một dòng ở cột kín “Vật đối”. Lần này, Tưởng không thể chỉ nói người chép sổ tự đặt ra cả ba con dấu.

Cảnh Diễn bước ra đúng phần tên mình. Hắn không chỉ vào Tưởng. Hắn xác nhận năm ấy mình trúng độc hương, Thục phi cứu hắn, lò cũ bị người Đông cung mang đi; về sau hắn từng được trình một cuốn sổ có các mục đổi vật Bắc nghi lấy giờ cửa và tuyến tuần, nhưng đã đồng ý để việc ấy bị giữ trong nội đình. Hoàng hậu khẽ gọi “Cảnh Diễn” từ sau rèm, chỉ một lần. Hắn dừng, rồi nói tiếp: “Nhi thần không biết ai viết phụ khoản hôm nay. Nhi thần chỉ chứng cuốn sổ này không phải đến hôm nay mới xuất hiện.”

Trong điện không còn tiếng lật giấy. Chừng ấy vẫn chưa đủ để tuyên Tưởng cấu kết, nên hắn vẫn có quyền đứng thẳng giữa điện. Hắn xin thu lại từng kết luận: thẻ áp vận hòm số bảy là giả; đường dùng vật lễ che quân cơ từng tồn tại; mật sổ có phần được chứng thực; quốc thư dưới nỉ có phụ khoản nguy hiểm và dấu cùng mẫu cũ. “Nhưng,” hắn nói, “chưa có một vật nào chứng thần đặt tờ lụa hôm nay vào bản kê số bảy. Người duy nhất thừa nhận đã thấy nó trước khi mở công khai là Tạ Uyển.”

Tạ Uyển nghe tên mình rơi xuống điện như một viên ngọc chạm nền đá. Tưởng đổi sang hỏi động cơ của người dựng chuỗi ấy.

“Lễ không chỉ định thứ tự vật,” Tưởng nói, “lễ còn định người nào được đứng ở đâu, vì sao được chạm vào việc gì. Nếu người giữ lễ đã có tư tâm với người nhận hòa thân, mọi lần xin hoãn, xin miễn chuyển, nhận lỗi thay, giữ trâm, giữ sổ, thậm chí việc thấy quốc thư mà không báo, đều phải được xét lại.” Hắn quay về phía rèm nơi Chiêu Nghi ngồi. “Thần xin hỏi trước triều một việc, trước khi lấy lời Tạ nữ quan làm căn cứ lật một đại thần.”

Tạ Uyển không thấy mặt Chiêu Nghi, chỉ thấy chuỗi châu trước rèm khẽ rung một hạt.

Tưởng Thừa Ân nói rõ từng chữ: “Giữa Tạ Uyển và Lý Chiêu Nghi, rốt cuộc là công vụ — hay tư tình?”