Bỏ qua nội dung

Chương 73: Không Ai Được Đi

Tiếng móc đồng bật khỏi vòng giữ, khô và nhỏ, nhưng cả điện đều nghe thấy.

Người lục sự quỳ bên bản kê số bảy không nhấc lớp nỉ ngay. Hắn nhìn Đỗ Nghiêm chờ lệnh. Đỗ Nghiêm đã không còn vẻ sốt ruột ban đầu; sau câu “đình xướng” của Tưởng Thừa Ân, từng động tác quanh án phản niêm đều biến thành thứ phải có người nhìn, có người ghi, có người chịu tên. Hắn chỉ hai ngón tay xuống mép nam của tấm gỗ. “Mở từ đây. Chỉ đủ để kiểm mặt kê. Tình trạng móc, nỉ, dây đều đọc trước khi động.”

Lục sự thứ hai cúi xuống ghi. Tạ Uyển đứng sau vạch phụ kiểm, mắt dừng ở bàn tay đang luồn dưới mép nỉ. Nàng không tiến thêm nửa bước. Chính nàng đã đẩy nghi thức tới chỗ này; từ đây trở đi, bất kỳ cái chạm tay nào của nàng cũng có thể biến một vật chứng thành một câu buộc tội khác.

Lớp nỉ được nâng lên chừng hai đốt ngón tay. Người lục sự bỗng khựng lại.

“Có vật kẹp dưới mặt nỉ.”

Không ai hỏi là vật gì. Tưởng Thừa Ân bước tới một bước, Đỗ Nghiêm đưa tay chặn người đang mở. Dưới ánh đèn, chỉ lộ ra một góc lụa vàng nhạt, mỏng hơn lớp nỉ và phẳng đến mức nếu không nhấc đúng mép sẽ tưởng đó là một lớp lót của bản kê. Ở đường chỉ gần móc đồng có một mũi xám lệch màu rất nhẹ.

Tạ Uyển nhận ra mũi chỉ ấy.

Nàng vẫn không nhìn lâu.

Tưởng Thừa Ân nói: “Dừng tay. Tách bản kê sang án trống, niêm lại rồi tra sau.”

“Không thể tách lúc này.” Tạ Uyển nói.

Ánh mắt hắn quay sang nàng gần như tức khắc. “Ngươi lại có điều thức nào?”

“Lệnh vừa ban là kiểm mặt kê để loại dị vật làm lệch lực ép.” Nàng nhìn sổ, không nhìn vật dưới nỉ. “Nếu dưới mặt kê có vật, nó chính là thứ phải ghi trong bước kiểm. Chưa ghi tình trạng mà chuyển bản kê, nguyên nhân sai lệch sẽ mất.”

Đỗ Nghiêm im lặng một khắc rồi nói với lục sự: “Ghi. Mép nam, dưới lớp nỉ, phát hiện vật dạng tờ, màu vàng nhạt, chưa lấy ra, chưa xác định.”

Bút chạy trên giấy. Tưởng Thừa Ân không phản bác thêm. Hắn hiểu hơn bất kỳ ai rằng từ lúc dòng ấy được đọc lại, vật dưới nỉ không còn là thứ có thể lặng lẽ mang ra khỏi điện.

Hạ Lan Việt lúc này mới lên tiếng. “Đã thành việc nội kiểm của Đại Lương, sứ đoàn Bắc Yên xin tạm lui ngoài điện để tránh thất lễ.”

Một viên tùy sứ sau lưng hắn lập tức dịch chân. Cùng lúc đó, Tưởng Thừa Ân quay sang nội thị giữ cửa, dường như thật sự định cho người Bắc Yên lui. Tạ Uyển nghe tiếng ngọc trên đai Chiêu Nghi khẽ chạm nhau ở bậc thứ ba.

“Không cần lui.” Chiêu Nghi nói.

Giọng nàng không cao. Rèm châu trước mặt vẫn rủ thẳng, nhưng bàn tay giấu trong tay áo đã thôi siết. “Quốc tín là vật bản cung sắp nhận trước sứ đoàn Bắc Yên. Nay vật ấy đang được phản niêm ngay trong lễ. Nếu người nhận phải đứng chờ, người chứng vì sao được rời?”

Hạ Lan Việt hơi nghiêng đầu. “Điện hạ cho rằng Bắc Yên là người chứng của Nội Lễ ty?”

“Không.” Chiêu Nghi đáp. “Bản cung cho rằng ngài đã nhập vị để chứng kiến Đại Lương giao quốc tín cho Bắc Yên.”

Một câu nói đúng đến mức không thể sửa bằng ngoại giao.

Đỗ Nghiêm lật sổ vị thứ, ngón tay dừng ở hàng tên sứ đoàn. “Phản niêm đã khởi. Người đã nhập vị nếu rời giữa bước, phải ghi nguyên do và tái lập đối chứng trước khi tiếp tục.”

“Vậy cứ ghi Bắc Yên không can dự nội vụ Đại Lương.” Hạ Lan Việt vẫn mỉm cười.

Tạ Uyển nhìn hắn. “Nếu tái lập đối chứng, quốc thư phải tái niêm chờ đủ người. Đại lễ hôm nay không thể tiếp tục đúng giờ.”

Nụ cười của Hạ Lan Việt nhạt đi một phần.

Tưởng Thừa Ân nhìn từ hắn sang Chiêu Nghi, rồi sang tờ lụa còn kẹt dưới nỉ. Trong một khoảnh khắc, Tạ Uyển hiểu hắn đang cân không phải một sai lệch, mà ba cái giá cùng lúc: để sứ đoàn đi thì đại lễ tự hoãn; giữ sứ đoàn lại thì mọi thứ dưới bản kê sẽ bị người Bắc Yên nhìn thấy; cố chuyển vật đi thì chính lệnh kiểm của hắn trở thành trò che giấu trước hai lục sự.

Hắn quay người.

“Đóng cửa điện.”

Hai cánh cửa gỗ khép lại, tiếng then đồng trượt vào ổ vang nặng hơn tiếng chuông giờ Mão vừa rồi. Ngoài cửa, cấm quân đổi vị trí. Bên trong, mọi người vẫn đứng nguyên chỗ.

Hạ Lan Việt thôi cười. “Tưởng đại nhân định giữ sứ thần Bắc Yên?”

“Giữ bước lễ.” Tưởng đáp. “Không giữ người.”

“Khác nhau ở đâu?”

“Ở chỗ khi biên kiểm hoàn tất, ai nên đi sẽ được đi.”

Rồi hắn nhìn Đỗ Nghiêm. “Không ai được rời vị. Tiếp tục kiểm.”

Tạ Uyển nghe rõ bốn chữ ấy mà lòng không hề nhẹ. Cánh cửa đóng không có nghĩa nàng đã thắng. Nó chỉ khiến ván cờ không còn đường để ai mang quân ra ngoài trước khi tất cả nhìn thấy thứ nằm trên bàn.

Đỗ Nghiêm cho hai lục sự cùng kiểm móc đồng, đường chỉ và mặt gỗ. Một người đọc, một người ghi. Khi đến mũi chỉ xám lệch màu, hắn dừng lại, dùng đầu kim lễ nâng nút chỉ lên trước ánh đèn. “Có dấu tháo khâu cũ. Không phải đường bọc nguyên thủy.”

Tưởng Thừa Ân hỏi: “Có xác định được người động tay không?”

“Không.”

“Vậy chỉ ghi tình trạng.”

Đỗ Nghiêm tự tay cắt đúng nút chỉ đã được đọc vào sổ. Lớp nỉ được lật lên thêm một tấc. Tờ lụa bên dưới hiện dần, gấp làm ba, mặt có hình hạc quay vào trong. Góc đông nam bị khuyết một miếng nhỏ, như từng được cắt để đối dấu. Mép cuối tờ lụa lộ một mảng son đỏ sẫm, trong son có những hạt đen li ti bắt ánh đèn.

Tạ Uyển thấy cổ tay mình lạnh buốt.

Đó là màu son nàng đã thấy trong ruột trâm.

Đỗ Nghiêm không gọi tên vật. Hắn lấy phiến đối trong hộp dấu, đặt cạnh mảng son vừa lộ. Trung văn chưa thể thấy hết vì tờ còn gấp, nhưng góc khung và khuyết nhận nằm đúng vị trí. Lần đầu tiên từ lúc lễ bắt đầu, hắn không nói ngay.

Tưởng Thừa Ân nói thay: “Một tờ có dấu không đồng nghĩa quốc thư.”

“Vâng.” Tạ Uyển đáp. “Vậy xin ghi là vật chưa xác định có ấn phù mẫu lưu ở phần đã thấy.”

Đỗ Nghiêm nhìn nàng, rồi nhìn Tưởng. Cuối cùng hắn gật đầu cho lục sự viết.

Hạ Lan Việt khẽ thở ra. “Nếu chỉ là một phụ khoản cũ kẹp nhầm dưới mặt kê, Đại Lương cũng không cần vì thế làm lớn chuyện trước sứ đoàn.”

Đầu bút của Tạ Uyển dừng giữa dòng.

Chưa ai mở tờ lụa.

Chưa ai đọc một chữ.

Đỗ Nghiêm cũng quay sang Hạ Lan Việt. Chỉ một thoáng, rất ngắn, nhưng đủ để khoảng im lặng trong điện thay đổi.

Tạ Uyển hỏi: “Hạ Lan đại nhân vừa nói phụ khoản?”

Hạ Lan Việt nhìn nàng. “Văn thư ngoại giao ngoài chính thư thường có phụ nghị, phụ khoản. Ta chỉ đoán theo cách gấp.”

“Cách gấp còn chưa được mở hết.”

“Người làm sứ nhiều năm, nhìn hình thức đoán một hai phần không lạ.”

Một lời giải thích đủ hợp lý để không thể gọi là tự thú. Nhưng cũng không đủ sạch để xóa câu vừa nói.

Chiêu Nghi cất tiếng từ bậc thứ ba: “Vậy càng nên đọc. Để khỏi khiến sứ thần Bắc Yên phải đoán vật của Đại Lương.”

Hạ Lan Việt không đáp.

Tưởng Thừa Ân nhìn Đỗ Nghiêm. “Mở theo thủ tục. Chỉ chủ kiểm và hai lục sự được chạm. Nội dung đọc vào biên bản, không truyền ra ngoài điện.”

“Còn lễ?” Chiêu Nghi hỏi.

Tưởng Thừa Ân nhìn nàng qua rèm châu. “Tạm hoãn đến khi xác định vật dưới bản kê.”

Chiêu Nghi khẽ cúi đầu, đúng lễ. “Bản cung lĩnh.”

Tạ Uyển không nhìn nàng. Nhưng bậc thứ ba vẫn chưa bị vượt qua.

Hai lục sự đổi găng lụa, đặt tờ vừa lấy ra lên một tấm kê trắng khác. Đỗ Nghiêm đọc tình trạng nếp gấp, góc khuyết, dấu son, rồi mới tháo nếp đầu tiên. Mặt hạc mở ra. Trên đầu tờ là thức chữ của quốc tín, không phải giấy ghi chép nội bộ. Dưới hàng niên hiệu có đủ dấu đối mà bản công khai vừa thiếu.

Trong điện, không ai còn nhắc tới chuyện son lấp.

Đỗ Nghiêm đọc chậm từng dòng. Phần đầu vẫn là những câu hòa hiếu, biên cảnh, thông hôn, không khác mấy bản công khai. Tưởng Thừa Ân đứng yên, hai tay giấu trong tay áo. Hạ Lan Việt cũng không đổi sắc. Chỉ đến khi Đỗ Nghiêm lật sang nếp cuối, ngón tay Hạ Lan Việt mới chạm rất nhẹ vào chiếc nhẫn bên ngón cái rồi dừng.

Tạ Uyển thấy.

Nàng cũng thấy Đỗ Nghiêm ngừng đọc.

“Đọc tiếp.” Tưởng Thừa Ân nói.

Giọng hắn vẫn bình, nhưng lần đầu tiên trong đêm, câu lệnh ấy không khiến người khác lập tức làm theo.

Đỗ Nghiêm nhìn dòng chữ thêm một lần, như muốn chắc rằng mình không đọc nhầm. Sau đó hắn cất giọng, từng chữ rơi xuống giữa điện đã khóa kín.

“Sau khi lễ thành, giao đồ bản ba đồn cùng tuyến chuyển lương Đông Trấn cho sứ Bắc Yên đối chiếu…”

Một cung nữ phía sau Chiêu Nghi hít vào rất khẽ.

Đỗ Nghiêm đọc đến dòng phê cuối.

“Theo bản nghị tại Đông các, chờ lễ thành thì giao.”

Tạ Uyển không còn nghe thấy tiếng lửa trên bấc đèn.

Nàng chỉ nhớ Hạ Lan Việt đã gọi nó là “phụ khoản” trước khi bất kỳ ai mở tờ lụa ra.