Chương 42 - Chương 42: Mẫu Đối Chiếu
Chương 42: Mẫu Đối Chiếu
Mười bốn giờ lẻ ba, Lạc Dĩ Hằng yêu cầu Ngô Hà đóng cửa sổ đang hiển thị HMC_KL_02 và BM03. Anh không cho in thêm bản chụp màn hình. “Trước khi gọi đây là cùng một biểu mẫu, cần một mẫu đối chiếu không dính đến Minh Châu.” Một mã bốn ký tự có thể lặp ở nhiều hệ thống; một thuộc tính có thể đi theo tệp mẫu dù nội dung đã thay. Trình Vi đề nghị lấy ba nhóm độc lập: công việc in thông thường từ PD2-04 trong cùng thời kỳ, một BM03 đã được dùng hợp pháp ở vụ không tranh chấp và gói mẫu nguyên thủy từ đơn vị quản trị phần mềm. Nếu thiếu một nhóm, mọi so sánh sau đó đều có nguy cơ chỉ chọn những gì khớp với giả thuyết.
Đơn vị quản trị cũ trả lời lúc mười bốn giờ ba mươi sáu. Kỹ sư phụ trách xác nhận bản cấu hình cuối tháng được tạo tự động, lưu chỉ đọc rồi chép sang kho ngoại tuyến. Trường “mã biểu mẫu” không phải ô người dùng gõ khi in; nó được ứng dụng nguồn truyền sang cùng tên công việc, số trang và mã gói mẫu. Tuy vậy, mã có thể bị thừa hưởng nếu người dùng mở một tệp cũ hoặc sao chép nội dung sang mẫu khác. Ngô Hà ghi nguyên giới hạn đó vào biên bản. Một giới hạn rõ vẫn có giá trị hơn một mối liên hệ nghe chắc chắn nhưng không biết được hình thành bằng cách nào.
Lạc chia việc lấy mẫu thành hai đường. Trung tâm phải cung cấp metadata các công việc PD2-04 trong ngày Minh Châu tử vong và hai ngày liền kề, không mở nội dung hồ sơ khác. Phía pháp chế xin một BM03 công khai hiện tại cùng bản trắng từ kho chuyển giao Minh Sinh. Minh Tuyến chỉ được chuyển tài liệu công khai qua Phó Dao; Hứa Ninh không được chọn bản, nhìn yêu cầu so sánh hay nhận kết quả. Phó Dao gửi đường dẫn kèm ghi chú: “Tài liệu do biên tập viên khác thu thập. Hứa Ninh không tham gia.” Trình Vi đặt dòng ấy vào mục nguồn. Cách Hứa đứng ngoài vẫn là một dữ kiện nghề nghiệp, chưa phải lời giải cho phần niềm tin đã vỡ.
Danh mục PD2-04 có bảy công việc khác trong cùng ngày. Năm bản kết luận mang mã HMGD-KL, một phiếu bổ sung mang HMGD-BS, một trang kiểm tra máy không có mã. Hai ngày trước và sau cũng không xuất hiện BM03. Mã ấy vì vậy không phải mặc định của máy trạm, nhưng vẫn có thể do một người dùng nhầm mẫu duy nhất một lần. Ngô Hà còn xác định các công việc đối chứng đều có trạng thái hoàn tất; HMC_KL_02 chỉ còn mốc gửi, không còn phản hồi từ thiết bị. Trình Vi nói: “Ta biết nó được đẩy tới máy. Chưa biết tờ giấy có đi ra.”
BM03 hiện tại có tiêu đề “Phiếu đối chiếu khả năng hỗ trợ vận động”. Nó không phải báo cáo pháp y. Trang chia thành hai cột: tình trạng theo hồ sơ ban đầu và tình trạng dùng cho kế hoạch chăm sóc; giữa trang là các ô nguồn thông tin, người đề nghị rà soát, người xác nhận và lý do khác biệt. Bản trắng Minh Sinh cũ hơn bốn năm, tên gọi ngắn hơn, nhưng thứ tự trường gần như không đổi. Cả hai đều có ô mã sự cố và dòng ghi nguồn tài liệu dùng để đối chiếu. Trình Vi nhìn khoảng trống giữa hai cột. Một biểu mẫu như vậy, nếu dùng đúng, giúp phát hiện sai lệch. Nếu dùng ngược, nó có thể biến mô tả cần giữ lại thành thứ chỉ tồn tại trong cột “trước điều chỉnh”.
Gói đăng ký của nhà cung cấp ghi BM03 thuộc nhóm quy trình chăm sóc Minh Sinh, phiên bản 1.4, tên nội bộ DOI_CHIEU_VD. Danh sách triển khai ban đầu có Minh Sinh, Đông Bình và một điểm “ngoài đơn vị” mang mã PD2. Hải Minh không phải khách hàng của gói chăm sóc, nhưng PD2-04 lại xuất hiện như thiết bị nhận mẫu cục bộ. Phiếu yêu cầu cài đặt bị thiếu trong hồ sơ bàn giao. “Có nghĩa ai đó mang BM03 vào phòng duyệt số hai?” Lạc hỏi. Ngô Hà đáp: “Có nghĩa máy đó từng có gói BM03. Chưa có nghĩa ai mang vào, mang lúc nào hay dùng cho việc gì.”
Mười sáu giờ lẻ tám, sổ gốc Đông Bình được mở dưới máy ghi hình. Phần cột bị gáy che trên bản quét hiện ra năm chữ viết nhỏ sau dòng 10:03: “kèm mẫu đối chiếu BM03”. Dòng 10:17 ghi “đã chuyển P.GĐ rà soát”. Không có tên người nhận tiếp theo, số hồ sơ kèm hay vị trí lưu trang fax. Lạc yêu cầu chụp toàn trang, cạnh giấy, gáy sổ và ba trang trước sau. Trình Vi không cho phép năm chữ ấy biến thành kết luận. Chúng đưa BM03 từ metadata của một công việc in sang sổ tiếp nhận của đơn vị khác, nhưng không chứng minh trang nhận lúc 10:03 chính là HMC_KL_02. Có thể fax gồm hai trang nhưng sổ chỉ đếm trang ý kiến; cũng có thể Đông Bình ghép một mẫu sẵn có vào tài liệu nhận.
N.T. được xác định là Nguyễn Thảo, nhân viên văn thư đã nghỉ hưu. Lạc không cho bà xem tên tệp hay metadata. Sau khi tự mô tả quy trình tiếp nhận, bà mới được nhìn bản sao trang sổ. Nguyễn Thảo nhớ hôm ấy có một trang chữ dày và một trang chia hai cột vì giấy bị cuộn, phải ép dưới khay sổ. Ký hiệu HM-PD2, theo bà, “có lẽ chép từ dòng đầu trang”, nhưng bà không còn chắc. Khi được hỏi hai trang có cùng lần fax hay không, bà lắc đầu. “Tôi nhớ hình, không nhớ thứ tự.” Lời khai được ghi là hồi ức sau bốn năm, cần kiểm chứng bằng bảng kê và bản gốc.
Bảng kê đường dây Đông Bình đến lúc mười sáu giờ năm mươi. Nó ghi một cuộc gọi đến từ số Văn phòng luật Tạ Quang lúc 09:58:41, kéo dài hai phút mười sáu giây, và một cuộc gọi khác từ phòng duyệt số hai lúc 10:15:09, kéo dài bốn mươi ba giây. Cuộc đầu phù hợp khả năng nhận hai trang trước khi ghi sổ 10:03; cuộc sau phù hợp một trang ngắn trước dòng 10:17. Nhưng đường dây không lưu nội dung, đồng hồ fax Đông Bình chưa được kiểm tra độ lệch và số gọi đến không xác định người thao tác. Khả năng Văn phòng Tạ Quang chuyển tiếp một gói tài liệu đã mạnh hơn, song cuộc gọi thứ hai cho thấy có thể tồn tại hai luồng riêng. Lạc vẫn không vẽ mũi tên.
Trình Vi quay lại bản BM03 cũ. Ở chân trang, dưới đường kẻ mờ, có câu hướng dẫn: “Sau hợp nhất, ngắt liên kết phiếu chuyển phòng trên bản dùng phát hành; bản nguồn chuyển lưu pháp lý.” Cụm “ngắt liên kết phiếu chuyển phòng” gần như trùng chi tiết “xóa liên kết phiếu chuyển phòng” mà Văn phòng Tạ Quân đã phủ nhận trong thư gửi Minh Tuyến, dù câu ấy không có trong bản thảo và chưa từng được tòa soạn hỏi. Phó Dao xác nhận qua lịch sử bản thảo đã khóa rằng tòa soạn chưa có BM03 cũ trước chiều nay; Hứa chỉ từng ghi câu hỏi về hai bản chăm sóc khác nhau, không biết tên thao tác này. Điều đó không chứng minh rò rỉ. Cụm từ có thể nằm trong tài liệu quy trình mà phía pháp lý đã sở hữu từ trước.
Ngô Hà mở phần thuộc tính chưa hiển thị của công việc in. Mã truyền cùng HMC_KL_02 không chỉ là BM03 mà là MSC-BM03-1.4, trùng hoàn toàn gói mẫu Minh Sinh và dòng ghi chú Đông Bình. Đây không còn là sự trùng mã ngẫu nhiên giữa các đơn vị. Công việc lúc 09:34:52 trên PD2-04 đã dùng đúng gói mẫu đối chiếu cũ. Tuy nhiên, tên công việc vẫn có thể được đặt lại, nội dung hai cột vẫn chưa biết và chưa có bằng chứng tờ giấy được gửi trong cuộc gọi 09:39:26. Lạc yêu cầu niêm phong gói cài đặt, truy phụ lục thiết bị còn thiếu và danh sách người có quyền cài mẫu cục bộ. Anh vẫn chưa gọi Lâm Tuệ.
Ở cuối hồ sơ nhà cung cấp có một trang phân phối chưa được số hóa đầy đủ. Ba điểm nhận được đánh dấu theo chức năng: cơ sở chăm sóc, đầu mối tiếp nhận và “tư vấn pháp lý ngoài đơn vị”. Tên tổ chức ở dòng cuối bị cắt khỏi bản lưu, chỉ còn số fax kết thúc bằng bốn chữ số trùng với số của Văn phòng Tạ Quang bốn năm trước. Một số fax trong danh sách phân phối chỉ chứng minh văn phòng ấy được dự kiến nhận mẫu hoặc tài liệu sinh từ mẫu. Nhưng khi Lạc đặt trang đó cạnh cuộc gọi 09:39:26, cuộc gọi 09:58:41 và dòng “kèm mẫu đối chiếu BM03”, khoảng trống giữa các nơi không còn hoàn toàn trống nữa.
Trên bảng, bốn mốc thời gian vẫn đứng riêng, không có mũi tên. Bên dưới là tên một gói mẫu được dùng để làm hai mô tả khớp nhau trước khi một bản được phát hành. Trình Vi nhìn câu “bản nguồn chuyển lưu pháp lý”. Nếu quy trình ấy đã bị biến thành công cụ, thứ bị giấu không nhất thiết là báo cáo cuối. Có thể đó là cột còn lại, bản mô tả bị loại khỏi hồ sơ được phép tồn tại. Lạc khép biên bản lúc mười tám giờ mười bảy. “Phải tìm không chỉ trang đã gửi, mà cả trang được dùng để đối chiếu với nó.” Ngô Hà mở trường dữ liệu cuối cùng của MSC-BM03-1.4: tên tệp nguồn bắt buộc phải có trước khi hợp nhất. Với hồ sơ Minh Châu, trường ấy không trống. Nó ghi một mã khác: HMC_VD_01.
