Chương 50 - Chương 50: Thí Sinh Trong Giếng
Chương 50: Thí Sinh Trong Giếng
“Đừng tháo thẻ lưng.”
Lục Thanh nói từ ngoài dây chắn khi hai lính vừa đặt thi thể lên tấm ván cạnh giếng. Nước còn chảy từ tay áo xanh nhạt xuống nền gạch, kéo theo những vệt mực loãng như khói. Một viên giám thí đã cúi xuống định lật dải thẻ buộc bên hông người chết; nghe nàng, hắn khựng lại rồi nhìn quan coi trường. Quan coi trường không nhìn bàn tay đen mực. Ông nhìn đám sĩ tử đang bị dồn về hành lang, như thể cái chết trước mắt chỉ là một tiếng động làm rối phép thi.
“Người trượt chân khi lấy nước,” ông nói. “Kéo lên, nhận tên, đưa ra nha môn. Trường thi không thể vì một kẻ bất cẩn mà loạn.”
Thanh không bước qua dây. “Nếu đã trượt chân, xin ghi ai thấy hắn tới giếng, ai thấy hắn ngã và vì sao dây gầu mắc dưới nước.”
“Ngươi đang bị đình việc.”
“Cho nên ta mới đứng ngoài.”
Đỗ Mạnh ở bên trong vòng chắn quay mặt đi, nhưng khóe miệng giật một cái. Anh đã cho người khóa hai lối vào sân giếng, giữ nguyên dây, gầu và chiếc móc sắt vừa dùng kéo xác. Phường trưởng cũng vừa tới, mang theo sổ ghi giờ từ cửa trường. Không ai trong số họ có thể cho Thanh quyền nghiệm thi, nhưng việc quan coi trường muốn đưa xác đi ngay khiến chính ông rơi vào thế phải lựa chọn: hoặc chờ ngỗ tác của nha môn tới giữa lúc thi thể nằm trước mắt hàng trăm sĩ tử, hoặc để người ông vừa mắng là vượt quyền xem ngoài thân dưới sự giám sát của tất cả.
Cuối cùng, viên chủ sự trực nhật trải một tờ giấy lên bàn đá. Quan coi trường đọc từng chữ để hắn viết: mời Lục Thanh xem ngoài thân, không giải y, không lấy vật trên người; mọi lời nói chỉ là ghi nhận ban đầu, chưa phải nghiệm trạng. Phường trưởng và Đỗ Mạnh ký làm chứng. Thanh chờ mực khô mới bước qua dây.
Nàng quỳ bên tấm ván. Vai trái vừa hạ xuống đã đau buốt, lớp vải dưới áo ngoài dính lại như có máu mới rịn, nhưng bàn tay nàng vẫn giữ thẳng. Trước tiên, nàng nhìn những thứ dễ bị thay nhất: vị trí thi thể, hướng đầu chân, dây lưng, thẻ gỗ, nút áo, hai bàn tay và bùn dưới đế giày. Nàng không chạm vào mặt người chết, chỉ ghé gần để xem môi, mi mắt và nước còn đọng trong tóc.
Người chết là nam tử khoảng ngoài hai mươi, thân hình gầy, móng tay cắt ngắn. Hai đầu ngón trỏ và giữa của bàn tay phải bám mực đen, dày nhất ở phần thịt đầu ngón. Cạnh ngón giữa, nơi người cầm bút thường tì cán, lại gần như sạch. Thanh dùng một que tre chỉ vào vết mực rồi hỏi viên giám thí: “Mực phát cho sĩ tử có cùng một loại?”
“Cùng bánh mực, cùng nghiên đá.”
“Người này không dính mực theo cách cầm bút. Hắn đã ấn hoặc giữ một tờ giấy khi mực còn ướt.”
Quan coi trường lạnh giọng: “Sĩ tử viết bài, chạm giấy là thường.”
“Nếu chỉ chạm bài của mình, vết mực phải có trên ngón cái hoặc cạnh bàn tay khi kéo giấy. Ở đây hai đầu ngón cùng đen, như kẹp một mép giấy. Mực lại không tan hết sau khi ngâm nước.” Thanh ngẩng lên. “Ta chưa nói hắn chết vì mực. Ta chỉ nói bàn tay này không kể cùng một chuyện với lời ‘trượt chân lấy nước’.”
Nàng chuyển sang quần áo. Mép gối không có vết xước mới, lòng bàn tay không bám rêu hay vụn gạch, trong khi thành giếng phía tây phủ một lớp rêu mỏng ở mặt ngoài. Một người hụt chân thường quờ tay, đầu gối hoặc khuỷu cọ vào mép đá; trên người chết không có dấu tương ứng. Trái lại, mặt trong cánh tay trái có bốn vệt bầm nhạt, nằm gần nhau, như từng bị một bàn tay siết giữ. Vết còn mới, chưa thể nói xuất hiện trước hay trong lúc rơi, nhưng đủ để không gọi cái chết là bất cẩn trước khi kiểm tra kỹ.
Đỗ Mạnh cúi nhìn nền giếng. “Dấu chân quanh đây nhiều quá.”
“Vì lúc kéo người, ai cũng dẫm vào.” Thanh đáp. “Cho nên phải ghi ai đã vào trước khi nền bị phá.”
Phường trưởng gọi từng người. Người phát hiện dây gầu là một tạp dịch mang nước tên Trần Hựu. Hắn khai sau khi phát nước cho dãy tây, thấy gầu không kéo lên được nên mới gọi lính. Khi Thanh hỏi ai đã xin ra giếng, Trần Hựu lắc đầu. Nước của sĩ tử được phát bằng vò, không ai được tự rời ô lấy nước. Hắn còn nhớ người áo xanh nhạt đã nhận một bát nước rồi quay về phía dãy phòng, bởi người đó làm đổ một ít lên ống tay.
Quan coi trường im lặng. Câu “trượt chân khi lấy nước” mất đi chỗ đứng đầu tiên.
Thẻ gỗ được tháo dưới mắt hai người làm chứng. Tên khắc trên đó là Chu Minh Viễn, quê huyện Thượng Lâm, ở ô ba mươi hai dãy tây. Sổ nhập trường và sổ phát giấy đều có tên ấy, nét dấu không bị cạo sửa. Không phải Lương Cảnh Du. Thanh ghi riêng điều đó, không để nỗi nghi từ phiếu số mười bảy kéo một người chết sang tên khác chỉ vì áo hắn cùng màu.
Ô ba mươi hai được niêm tạm bằng dây đỏ. Khi quan coi trường cho mở, bát nước vẫn đặt bên góc bàn, mặt nước gần đầy, một vệt tràn đã khô nửa bên thành. Nghiên mực pha loãng, đầu bút còn ướt. Tờ bài chính nằm dưới thanh chặn giấy, viết gần hết mặt thứ nhất. Hai tờ nháp ở bên trái có cùng nét chữ với lời cam kết Chu Minh Viễn đã viết lúc nhập trường: chữ nhỏ, hơi nghiêng, nét móc cuối thường thiếu lực.
Thanh không được lấy giấy, chỉ đứng cách bàn một bước. Nàng yêu cầu viên giám thí tự tay lật từng tờ và đọc số cấp giấy. Hai tờ nháp đều đúng số của ô ba mươi hai. Dưới tấm ván kê tay, một góc giấy mỏng lộ ra. Viên giám thí kéo nó lên bằng kẹp tre. Đó là một dải giấy bị xé dọc, rộng chưa bằng hai ngón tay, còn sáu dòng chữ. Nét chữ trên dải giấy lớn và đứng hơn hẳn chữ Chu Minh Viễn. Mực đen bóng, ở mép giấy còn một vệt bị hai đầu ngón ấn nhòe.
Thanh nhìn bàn tay người chết rồi nhìn dải giấy. Vết nhòe có đúng khoảng cách giữa ngón trỏ và ngón giữa.
“Có thể hắn nhặt được giấy rác,” quan coi trường nói.
“Có thể.” Thanh không bác ngay. “Xin đặt dải giấy cạnh bài chính, không cho chạm mép mực.”
Viên giám thí làm theo. Sáu dòng trên dải giấy xuất hiện ở đoạn giữa bài Chu Minh Viễn, gần như nguyên từng chữ. Cả một điển cố lạ về người đổi tên để giữ mạng cũng được chép lại, kể cả chỗ dùng sai một chữ rồi sửa ở cuối dòng. Trên dải giấy, chữ sai bị gạch bằng một nét ngang. Trong bài Chu Minh Viễn, hắn đã chép chữ sai trước, sau đó mới sửa giống hệt.
Không ai trong căn ô nhỏ nói gì. Tiếng mõ từ sân chính vọng tới, từng nhịp đều đặn như cố chứng minh phép thi vẫn chưa vỡ.
Thanh nói: “Đây không còn là giấy rác ngẫu nhiên. Chu Minh Viễn đã nhìn một bản khác và chép từ đó khi mực còn ướt. Vết trên tay hắn thuộc về dải giấy này, không phải nghiên mực của hắn.”
Quan coi trường bước sát bàn. “Ngươi muốn nói có người truyền bài trong trường?”
“Ta nói đúng phần chứng cứ cho phép: một mảnh nháp không thuộc ô ba mươi hai nằm dưới bàn Chu Minh Viễn; nội dung của nó được chép vào bài của hắn; tay hắn có dấu đã cầm mảnh giấy lúc mực chưa khô. Hắn tự nguyện chép, bị ép chép hay bị người khác đặt vào ô, hiện chưa biết.”
“Còn cái chết?”
“Cũng chưa biết. Nhưng hắn đã nhận nước rồi trở về ô. Không ai thấy hắn đi ra giếng. Trên người không có dấu quờ ngã phù hợp, lại có vết bị giữ ở cánh tay. Gọi trượt chân lúc này là viết kết luận trước khi có nghiệm trạng.”
Đỗ Mạnh lập tức yêu cầu niêm thi thể, ô thi, bài chính, hai tờ nháp và dải giấy thành các mục riêng. Quan coi trường định gom tất cả vào một hòm, nhưng Thanh ngăn lại. Nếu dải giấy bị coi là một phần bài của Chu Minh Viễn, nguồn gốc của nó sẽ biến mất trong cách gọi. Phường trưởng đề nghị lập bốn biên bản, ghi từng người đã chạm và giờ mở ô. Trước mặt nhiều giám thí, quan coi trường không thể từ chối mà không tự nhận mình muốn làm mờ vật chứng.
Khi dây niêm cuối cùng được buộc, Thanh mới nhìn góc còn lại của dải giấy. Phần lớn dấu cấp giấy đã bị xé mất, chỉ còn nửa vòng son và hai nét số. Viên chủ sự mang sổ phát giấy tới đối. Dấu son ấy không thuộc dãy tây. Nó thuộc dãy đông, nơi mỗi ô được cấp một bộ nháp có số riêng.
Đỗ Mạnh dò theo hàng ghi rồi dừng ngón tay.
“Số mười bảy.”
Thanh không đáp. Ống trúc của Dao nằm sát ngực nàng, lạnh qua lớp áo, còn vai trái đau như có một lưỡi móc kéo ngược. Ngoài sân, một người chết vừa được gọi đúng tên. Trong hòm niêm trước mặt nàng, sáu dòng văn lại mang dấu của một người khác.
Chu Minh Viễn đã chép bài từ ô số mười bảy.
