Bỏ qua nội dung

Ho So Chua Dong

Chương 75 - Chương 75: Lời Mời Của Trần Vũ

Chương 75: Lời Mời Của Trần Vũ

Bảy giờ năm mươi phút, Quân vẫn chưa mở phong bì. Anh yêu cầu văn thư đặt nó lên tấm lót mới, thay găng và ký lại thời điểm bàn giao. Mép bì có mùi thuốc sát trùng rất nhạt, nhưng mùi không được ghi thành kết luận. Một cán bộ kỹ thuật quệt riêng góc dán và phần giấy quanh dấu phát hành; hai mẫu được niêm độc lập. Phong bì chỉ được mở sau khi số công văn, mã xác thực giấy và sổ phát đều có người thứ hai đối chiếu. Hãn đứng ngoài vạch băng, nhìn trích yếu qua lớp túi trong. “Nếu họ muốn Minh đến, họ có thể gọi bằng đường công vụ.” Quân đáp: “Họ đã gọi. Phong bì này là phần có thể đưa vào hồ sơ.”

Số công văn tồn tại trong hệ thống văn thư. Mã giấy đúng định dạng của Văn phòng Phó phòng cảnh sát hình sự, con dấu thời gian khớp với sổ phát lúc bảy giờ ba mươi tám, còn chữ ký số của Trần Vũ được xác thực bằng chứng thư đang hiệu lực. Không có dấu hiệu giả thô. Chính sự hợp lệ ấy khiến Quân không cho phép ai dùng từ “bẫy” trong biên bản. Anh chỉ ghi: văn bản thật, mục đích chưa xác định, thời hạn giao bất thường. Từ lúc phát hành tới hạn giao tận tay chỉ còn hai mươi hai phút, trong khi người gửi không có quyền biết vị trí hiện tại của Kha Minh.

Phong bì được rạch ở cạnh dưới để giữ nguyên mép dán. Bên trong có hai tờ giấy. Tờ đầu mời Kha Minh có mặt lúc tám giờ mười lăm tại phòng họp B-214 của trụ sở Thành Nam để “trao đổi riêng về phương án bảo vệ nhân chứng và người liên quan”. Tờ thứ hai yêu cầu mang theo sơ đồ bố trí bảo vệ, danh sách đầu mối giao nhận, tình trạng của Vương Hãn và nơi lưu giữ bản RN-0802. Cuối trang có một dòng nhỏ: nếu người được mời không có mặt hoặc không cử người được ủy quyền, Văn phòng Phó phòng sẽ lập biên bản không chấp hành yêu cầu phối hợp khẩn cấp.

Quân đọc xong nhưng không gấp giấy lại. Lời mời không yêu cầu ghi địa chỉ nhân chứng, chỉ yêu cầu những tài liệu đủ để suy ra nơi họ đang được bảo vệ. Nếu Minh tới một mình, tuyến theo dõi sẽ có mục tiêu. Nếu cô gửi sơ đồ và đầu mối, mạng lưới tách nhóm sẽ bị lộ. Nếu không làm cả hai, văn bản đã chuẩn bị sẵn lý do chuyển trách nhiệm. Hãn nhìn dòng cuối, bàn tay nắm lại rồi buông. “Người viết biết chúng ta đang giữ RN-0802.” Quân nói: “Người viết biết tên tài liệu. Chưa chắc biết chúng ta giữ bản nào.”

Cán bộ thanh tra gọi từ tổng đài độc lập. Số công văn được thư ký Văn phòng Phó phòng đặt chỗ lúc bảy giờ ba mươi hai, trước cuộc gọi thứ hai tới điện thoại công cộng. Bản dự thảo được tải lên lúc bảy giờ ba mươi bảy phút mười bốn giây và ký sau đó hai mươi sáu giây. Nhật ký chỉ ghi tài khoản thư ký ở bước tạo hồ sơ; trường tải tệp dùng quyền chung của văn phòng, không lưu thiết bị đầu cuối. Camera hành lang ngoài văn phòng Trần Vũ có hình đến bảy giờ hai mươi chín phút năm mươi tám giây, rồi mất tín hiệu đúng bảy phút. Biên bản ghi “kiểm tra đường truyền định kỳ”, nhưng yêu cầu bảo trì được nhập sau khi camera đã mất hình.

Quân yêu cầu sao lưu nguyên ổ ghi, lấy lịch bảo trì từ đơn vị khác và lập danh sách người ra vào bằng thẻ. Khoảng trống bảy phút chỉ chứng minh camera không ghi hình; nó chưa chứng minh ai đã vào văn phòng hay ai soạn lời mời. Tuy nhiên, thời điểm tạo công văn nằm trong vùng không có hình, còn tác vụ KM-04 được tạo trước đó một phút mười bốn giây. Hai chuỗi vẫn niêm riêng, nhưng lần đầu tiên chúng có một khoảng thời gian chồng lên nhau.

Bảy giờ năm mươi tám, bản tóm tắt lời mời tới tay Kha Minh qua tuyến giấy một chiều. Người giao đặt phong bì nhỏ vào hộp nhận rồi rời đi, không nhìn thấy ai lấy. Minh đọc đứng cạnh chiếc bàn kim loại, một tay giữ mép giấy, tay kia đặt trên mặt bàn để không siết lại. Lâm Từ ở cách cô một bước. Hạ Uyên đang ở phòng phía trong, cánh cửa khép và máy tạo tiếng nền vẫn chạy đều. Quân đã bỏ mùi thuốc sát trùng và câu nói của người gọi; chỉ giữ những gì Minh cần để quyết định: thời gian, địa điểm, danh mục tài liệu, điều khoản lập biên bản và khoảng camera trống.

Minh đọc hai lần. Tới dòng yêu cầu tình trạng của Vương Hãn, cổ tay cô dừng lại. Trần Vũ chưa từng được thông báo Hãn đang hợp tác ở mức nào. Ông ta có thể suy ra từ việc các lệnh truy cập bị chặn, cũng có thể đã đọc một báo cáo nội bộ chưa đến tay đội. Cả hai khả năng đều nguy hiểm, nhưng không cái nào cho phép cô kết luận người ký công văn là người tạo KM-04. Cô đặt tờ giấy xuống. “Ông ấy muốn tôi xuất hiện.” Lâm Từ nhìn điều khoản cuối. “Hoặc muốn hồ sơ ghi rằng cô đã không xuất hiện.”

Mùi thuốc sát trùng không có trên tờ giấy, nhưng ký ức vẫn tự tìm đường trở lại: hành lang sáng trắng, tiếng bánh xe đẩy, một bóng người gần máy photocopy rồi biến mất khi cô quay đầu. Minh nhận ra mình đang giữ hơi thở. Cô thả tay khỏi mép bàn, hít vào chậm và nhìn giờ mời. Lâm Từ không hỏi cô đã nhớ gì. Cô chỉ nói: “Họ viết sẵn hai lựa chọn. Đi thì lộ tuyến. Không đi thì bị biến thành người cản trở.” Minh đáp: “Vậy không chọn lựa chọn của họ.”

Cô soạn văn bản trả lời bằng tay, không dùng thiết bị tại điểm trú. Nội dung xác nhận đã nhận lời mời và sẵn sàng phối hợp, nhưng yêu cầu cuộc làm việc có đại diện thanh tra nội bộ, pháp chế và cán bộ bảo vệ nhân chứng; địa điểm phải có camera độc lập, danh sách người tham dự được chốt trước, mọi yêu cầu tài liệu phải nêu căn cứ thẩm quyền. Minh từ chối cung cấp vị trí, sơ đồ di chuyển, đầu mối hoặc tình trạng chi tiết của nhân chứng trước khi xung đột lợi ích được kiểm tra. Cô ghi rõ việc không có mặt lúc tám giờ mười lăm không phải từ chối phối hợp, vì thời hạn giao không cho phép thực hiện mà không phá vỡ biện pháp bảo vệ.

Lâm Từ đọc lại từng dòng. “Cô đang buộc họ chọn giữa một cuộc họp có giám sát và một biên bản sai sự thật.” Minh ký tên rồi dừng bút trước khi ghi giờ. “Không. Tôi chỉ không cho họ viết thay lựa chọn của tôi.” Cô ghi tám giờ lẻ ba phút. Bản trả lời đi ra bằng tuyến khác với tuyến mang lời mời vào; người chuyển không biết điểm xuất phát, Quân chỉ nhận nó ở chặng cuối. Không cuộc gọi nào được thực hiện từ nơi Hạ Uyên đang ở.

Tám giờ lẻ tám, thư ký Văn phòng Phó phòng gọi cho Quân bằng số bàn đã đăng ký. Giọng cô ta bình tĩnh, gần như áy náy. “Anh Vũ chỉ lo đội trưởng Minh đang chịu áp lực. Cuộc trao đổi không mang tính kỷ luật.” Quân bật ghi âm và hỏi số công việc. Người bên kia đọc đúng số công văn, rồi đề nghị anh xác nhận Minh có an toàn không. Quân đáp: “Tình trạng nhân sự thuộc kênh báo cáo đã phân quyền. Tôi chỉ xác nhận văn bản trả lời đang được chuyển theo đường công vụ.” Thư ký im một nhịp. “Vậy đội trưởng Minh sẽ không tới?” “Tôi chưa nói vậy.”

Bản trả lời được văn thư trụ sở tiếp nhận lúc tám giờ mười hai phút bốn mươi giây, có hai người chứng kiến. Quân yêu cầu đóng dấu giờ lên bì và đưa qua khay công văn chung. Ba phút còn lại không đủ để thay đổi bố trí an toàn, nhưng đủ để xác lập rằng Minh đã không im lặng. Tại điểm trú, cô ngồi cạnh cửa phòng Hạ Uyên. Cô không biết Trần Vũ có ở B-214 hay không, cũng không biết lời mời là quyết định của ông ta hay một văn bản được dùng tên ông ta. Điều cô biết là người đối diện đang biến quy trình thành áp lực. Cách chống lại không phải phá quy trình, mà buộc mọi bước để lại dấu.

Đúng tám giờ mười lăm, hệ thống đặt phòng B-214 đổi trạng thái từ “đã mời” sang “đang họp”. Không có thẻ của Kha Minh quét qua cửa. Một thẻ khách hết hạn ba tháng được ghi nhận ở đầu đọc phụ, nhưng đầu đọc chính không lưu hình ảnh đối chiếu. Camera trong phòng mất tín hiệu từ tám giờ mười bốn phút năm mươi chín giây. Camera hành lang vẫn hoạt động, chỉ cho thấy cửa đóng và không ai đi qua. Quân yêu cầu khóa nhật ký, không cho kỹ thuật viên khởi động lại camera. Sáu phút sau, phòng họp vẫn được hệ thống ghi là có người sử dụng.

Tám giờ hai mươi hai, camera B-214 tự nối lại. Trên bàn có một tập biên bản ba trang không xuất hiện trong hình ảnh trước khi tín hiệu mất. Trang đầu ghi tên cuộc họp, số công văn và thành phần gồm Trần Vũ, thư ký văn phòng cùng Kha Minh. Mục kết luận viết rằng đội trưởng Kha Minh “không cung cấp thông tin cần thiết về nhân chứng và tự ý rời cuộc làm việc”. Cuối trang ba là chữ ký mang tên cô, nét mực đen đều đến mức không có độ đậm nhạt của bút thật. Quân không chạm giấy. Anh chụp nguyên trạng qua cửa kính, gọi thanh tra niêm phòng và gửi cho Minh một câu: “Họ đã lập biên bản như thể cô từng có mặt.”

Minh đọc câu ấy, rồi nhìn chữ ký thật còn hằn trên bản than của văn bản trả lời trước mặt. Cô không bất ngờ. Chỉ có một cảm giác lạnh, rất rõ, chạy từ cổ tay lên vai. Lời mời chưa bao giờ cần cô bước vào B-214. Nó chỉ cần một khoảng camera trống, một hồ sơ hợp lệ và một chữ ký đã tồn tại đủ lâu để được lấy ra dùng lại. Cô gấp bản than, đưa cho Lâm Từ giữ cùng túi niêm mới. “Từ giờ, không ai chứng minh tôi không ở đó bằng lời nói.” Minh đứng dậy. “Chúng ta chứng minh bằng chuỗi thời gian.”