Chương 79 - Chương 79: Ngoài Tường Đỏ
Chương 79: Ngoài Tường Đỏ
Tiếng móng ngựa nện xuống con dốc làm vòng sắt ngang thành xe rung lên từng nhịp. A Tịch vừa quay đầu đã thấy lớp băng bên sườn nóng ướt trở lại. Nàng không nhìn rõ mặt toán người dưới ánh đuốc, chỉ thấy thẻ bài đỏ đen giơ cao và những vạt áo huyền quất trong gió. Người áp giải đi đầu rút nửa thanh đao khỏi vỏ, nhưng không ra lệnh dừng. Ông quát người đánh xe giữ đúng đường, còn nữ lại Ty Lễ ép tờ chuyển áp giải sát vào ngực, như giữ một vật có thể bị giật mất bất cứ lúc nào.
Kỵ binh đuổi kịp trước khúc ngoặt đầu tiên. Viên nội vệ dẫn đầu thúc ngựa chắn ngang mép đường, giọng lạnh và gấp: “Phụng lệnh Nội đình truy hồi hai phạm nhân. Dừng xe, giao người.” Phía sau hắn có tám người, đủ để ép chiếc xe thuốc chậm chạp quay lại nếu đội áp giải không chống cự. Ba hồi chuông đã cho họ qua cổng, nhưng trong tay hắn chỉ có một tấm truy áp bài đóng dấu Cung Môn ty, không có tờ lệnh ghi tên người bị bắt.
Nữ lại Ty Lễ không bước xuống đường. Nàng mở tờ chuyển áp giải ngay trên xe, đọc rõ điều khoản không được tách người, đổi thuốc hay đổi đội áp giải giữa đường, rồi hỏi: “Ai ký lệnh thu hồi?” Viên nội vệ đáp rằng tình thế khẩn cấp, văn thư sẽ bổ sung sau. Nữ lại đưa bút và mép sổ về phía hắn. “Vậy xin đại nhân ghi tên, chức, giờ chặn xe và lý do bác ba ấn đồng quản. Ghi xong, chúng ta cùng quay lại.” Hắn không nhận bút. Chỉ một thoáng chần chừ ấy cũng đủ để A Tịch hiểu: toán người này có quyền đuổi theo, có thể lấy danh nghĩa Nội đình để chặn đường, nhưng chưa ai muốn mang tên mình đặt lên việc cướp người khỏi tay ba ty.
Viên nội vệ vung tay. Hai kỵ binh lập tức ép sát hai bên, một người chồm tới định giật dây cương. Người đánh xe kéo mạnh, bánh trái nghiến qua rãnh đá, cả thùng xe nghiêng đi. A Tịch trượt khỏi tấm chiếu. Sợi xích giật cổ tay nàng lên cao, vết thương bên sườn bật đau đến tối mắt. Giang Nhược đạp chân vào thanh gỗ, dùng vai đỡ lấy nàng. Bàn tay bị thương của nàng va vào vòng sắt, máu rịn qua lớp vải quấn, nhưng giọng vẫn không đổi: “Đừng cố ngồi thẳng. Giữ hơi.”
A Tịch cắn chặt môi, nhìn qua khoảng bạt bị gió hất. Con đường phía trước chia làm hai. Lối rộng bên phải dẫn thẳng tới hố tiêu dược, nơi xe chở tro thường đổ hàng rồi quay lại cung. Lối trái hẹp hơn, chạy men theo rãnh nước vôi đến trạm rửa trục và y xá ngoại viện. Nàng đã nhớ những vệt bánh ấy từ lần xe số bốn được đưa ra chạy thử: bánh chở hòm nặng lún sâu ở đường phải, còn đường trái có hai cọc đá trắng, chỉ vừa một trục xe đi qua. Một khi xe lọt giữa hai cọc, ngựa không thể vượt lên song song.
“Qua cọc vôi, đi lối trái,” nàng nói, hơi thở đứt giữa câu. Người đánh xe không quay đầu. Dược nô ngồi cạnh lập tức gõ cán cân vào thành xe hai tiếng, xác nhận tuyến nhận hòm của y xá. Nữ lại Ty Lễ cũng giơ tờ áp giải lên: “Điểm bàn giao ghi ngoại viện, không phải hố tiêu dược. Đi đường phải mới là tự ý đổi tuyến.” Người áp giải ra lệnh hai thị vệ lui về sau giữ bánh, còn xe số bốn lao chậm nhưng thẳng vào khoảng giữa hai cọc đá.
Kỵ binh không vượt được nữa. Viên nội vệ cho người vòng qua bờ rãnh, song đất bên đó mềm vì nước rửa thuốc, móng ngựa vừa xuống đã trượt. Hắn buộc phải cho cả toán xuống ngựa. Khoảng cách vì thế giãn ra nửa đoạn đường, không đủ để gọi là thoát, nhưng đủ cho dược nô kéo sợi dây đồng treo dưới ghế xe. Một hồi chuông đục vang lên từ thùng xe, báo xe có tro dược đã mở niêm đang vào khu xử lý. Phía trước, người của trạm rửa trục kéo cánh chắn gỗ lên. Theo lệ, ngựa và đuốc trần không được đi vào nơi có hùng hoàng, lưu hoàng cùng thuốc mốc đang chờ đốt.
Xe vừa qua cánh chắn, toán truy binh đã chạy tới. Một cây thương cắm ngang khe gỗ trước khi cánh chắn hạ hết. Viên nội vệ lách qua, ném truy áp bài lên bàn ghi sổ của trạm và quát đóng cửa ngoài, giữ nguyên mọi người chờ lệnh mới. Viên quản trạm tóc đã bạc không vội cúi đầu. Ông dùng kẹp gỗ lật tấm bài, đọc hàng chữ nhỏ ở mặt sau rồi nói: “Bài này cho phép truy người trong phạm vi cung cấm và yêu cầu trạm phối hợp kiểm tra. Không có tên, không có lệnh đổi áp giải, càng không có ba ấn.”
“Hai người này thuộc Nội đình.” Viên nội vệ chỉ vào xe. “Một người là cung nữ đã chết, một người là thái y đình chức. Trạm ngoại viện không có quyền nhận.”
A Tịch nghe chữ đã chết mà ngực lạnh đi theo thói quen cũ. Trước đây, chỉ cần ai nhắc đến sổ tử, nàng sẽ cúi thấp đầu, tìm bóng tối gần nhất để biến mất. Lần này nàng chống chân đứng lên dù Giang Nhược giữ tay áo. Sợi xích kéo căng giữa hai người, tiếng sắt chạm sắt vang ngay trước bàn ghi sổ. “Ta là A Tịch,” nàng nói. Cơn sốt làm giọng khàn, nhưng từng chữ vẫn đủ rõ. “Người sống sót vụ cháy lãnh cung, nhân chứng có tên trong tờ áp giải. Nếu đại nhân cho rằng ta phải trở lại, xin đọc lệnh có tên ta trước những người ở đây.”
Khoảng sân trạm im đi. Người quản trạm nhìn nàng, rồi nhìn nữ lại Ty Lễ. Nữ lại đặt nửa phiếu vàng, sổ nhân chứng và tờ ba ấn lên bàn. Số trục, dấu bánh, dây niêm sáu hòm và giờ qua cổng được đối từng mục. Không có mục nào thiếu. Người quản trạm gọi hai thư lại ra làm chứng, bắt đầu ghi: xe số bốn tới trạm rửa trục, người áp giải nguyên đội, hai nhân chứng còn đủ, truy binh Nội đình tới sau và yêu cầu thu hồi bằng truy áp bài không kèm văn thư.
Viên nội vệ bước tới giật tờ sổ. Người áp giải Ty Lễ chặn bằng vỏ đao. Lưỡi đoản đao của đối phương bật ra trong cùng một nhịp, rạch một đường dài trên cánh tay ông. Máu nhỏ xuống nền đá trắng. Bốn thị vệ Ty Lễ lập tức dàn thành hàng, còn người trạm kéo móc sắt khỏi tường. Chỉ cần thêm một nhát đao, việc truy người sẽ thành hành hung quan sai và cướp nhân chứng đã được ba ty đóng ấn. Viên nội vệ nhìn quanh, cuối cùng không tiến thêm. Hắn tra đao, nhưng vẫn giữ tay trên chuôi.
Giang Nhược cúi sát A Tịch. “Ngồi xuống.” Nàng dùng bàn tay lành ép lớp băng bên sườn, môi trắng bệch vì chính vết thương của mình. A Tịch không ngồi. Nàng nhìn người quản trạm đóng dấu nhận lên mép tờ áp giải. Một dấu cho xe, một dấu cho người, một dấu xác nhận thuốc chưa bị đổi. Khi dấu cuối cùng hạ xuống, nữ lại Ty Lễ nói với viên nội vệ: “Bàn giao đã hoàn tất. Từ giờ muốn đưa họ trở vào, phải có ngự phê hoặc văn thư đủ ba ấn mới. Đại nhân có thể chờ ở trạm, cũng có thể ghi yêu cầu vào sổ. Không thể tự lấy người.”
Viên nội vệ nhìn con dấu còn ướt rất lâu. Hắn đã qua cổng nhờ ba hồi chuông, nhưng tiếng chuông chỉ mở đường cho việc truy xét; nó không thể xóa dấu mực vừa được lập trước nhân chứng ngoài tường. Sau cùng hắn ném lại một câu rằng lệnh mới sẽ tới trước giờ Thìn, rồi dẫn người lui ra ngoài cánh chắn. Đám ngựa vẫn đứng bên kia rãnh vôi, phì hơi giữa màn sương. Cánh gỗ hạ xuống, thanh then cài qua lỗ đá. Không ai reo mừng. Người áp giải đang buộc lại cánh tay, dược nô kiểm từng dây niêm, nữ lại tiếp tục chép biên bản. Cái giá của một đoạn đường chỉ là thêm máu và thêm những cái tên phải đứng ra chịu trách nhiệm.
Xe số bốn đi tiếp qua sân tiêu dược. Những hố đốt còn âm ỉ sau bức tường đất, khói thuốc xám bò thấp trên mặt cỏ. Xa hơn là mái ngói đen của y xá ngoại viện, không cao, không có rồng phượng, chỉ treo một tấm biển gỗ bạc màu. Đến bậc cửa, người quản y xá kiểm tờ nhận, cho tháo vòng khóa khỏi thành xe rồi chuyển nguyên hai chiếc khóa cổ tay vào phòng trị thương để lập biên bản. Điều khoản không đổi thuốc được đọc lại trước khi hòm dược mở. Giang Nhược tự xem niêm phong, ngửi từng gói bột cầm máu, mới gật đầu cho nữ y ở ngoại viện chạm vào vết thương A Tịch.
Khi chiếc khóa bật khỏi cổ tay, A Tịch không lập tức rút tay về. Nàng nhìn vòng sắt mở trên mặt bàn, nơi da mình đã hằn một vệt tím sâu. Suốt nhiều tháng, nàng sống nhờ những cánh cửa khóa, những góc tối và những cái tên mượn tạm. Bây giờ phía ngoài cửa sổ không có tường son, chỉ có hàng dâu trụi lá, mái bếp thấp và một dải đường đất chạy về phía có tiếng người rao buổi sớm. Nàng biết mình vẫn là nhân chứng chờ phán quyết, vẫn có lính Ty Lễ ngoài cửa, vẫn chưa thể tự ý đi đâu. Nhưng Nội đình không còn có thể bước vào kéo nàng đi chỉ bằng một câu khẩu lệnh.
Cơn căng giữ nàng tỉnh đến đó thì đứt. A Tịch ngã xuống trước khi kịp nghe Giang Nhược gọi. Lúc mở mắt lại, trời đã sáng hẳn. Mùi thuốc trong phòng vẫn quen, nhưng lẫn với mùi cháo kê và khói củi từ những nhà dân ngoài viện. Giang Nhược ngồi cạnh giường, bàn tay vừa được băng lại đặt trên đầu gối. Thấy nàng tỉnh, Giang Nhược không hỏi có đau không, chỉ kéo chén nước đến gần và nói: “Cửa sổ đang mở. Nếu lạnh, ta sẽ khép.”
A Tịch nhìn khoảng trời vuông không bị tường đỏ cắt ngang. Một con chim sẻ đậu trên bậu, nghiêng đầu rồi bay đi, không ai kiểm thẻ bài của nó. Nàng muốn nói khép lại, bởi gió ngoài kia quá rộng, tiếng người quá lạ, và lần đầu tiên không có hồi chuông nào bảo nàng phải đứng ở đâu. Nhưng bàn tay Giang Nhược vẫn ở bên mép chăn, đủ gần để nàng chạm tới mà không cần sợi xích giữ hai người lại. A Tịch chậm rãi lắc đầu. Ngoài tường đỏ, nàng đã giữ được mạng sống; chỉ là nàng vẫn chưa biết phải sống một đời do chính mình chọn như thế nào.
