Bỏ qua nội dung

Chieu Hoa Than

Chương 64 - Chương 64: Sắc Chỉ Xuất Giá

Ngón tay Phó Cẩn vẫn dừng trên đường mực chạy lên phía bắc. Tạ Uyển không nhìn theo hướng hắn chỉ ngay lập tức. Nàng nhìn vào nửa vòng khóa còn treo nơi cổ tay hắn, rồi kéo tờ bổ lục lại gần. “Hương án thứ ba tính từ đâu?” Phó Cẩn đáp: “Từ nội môn của điện tế tiễn giá, không tính từ chính điện. Sáu án giống nhau, nhưng án thứ ba có một đinh đồng đóng ngược dưới chân phía tây. Đế rỗng, nắp đáy trượt về phía trong.” Lục sự Đông giám vừa định lên tiếng, Tạ Uyển đã đặt bút xuống. “Ghi đủ. Người khai chỉ vị trí, đặc điểm và chiều mở; chưa xác nhận vật còn ở đó.” Nàng không cho một lời chỉ đường biến thành kết luận. Một đầu mối chưa qua đối chứng vẫn chỉ là đầu mối, dù nó có thể nằm cách nàng chưa đầy ba lớp cửa cung.

Mạnh cô cô nhìn sơ đồ, giọng thấp: “Hương án đã được chuyển khỏi kho lễ từ canh năm. Giờ này có lẽ đang đặt trong điện chuẩn bị tế tiễn.” Như vậy càng không thể tự tiện tháo đế. Một chiếc án trong kho có thể kiểm theo danh mục; một chiếc án đã vào nghi trượng thì mỗi lần chạm tay đều có thể bị quy thành phá lễ. Tạ Uyển khoanh một vòng mực nhạt ở công đạo thứ bảy, yêu cầu Lương Khải tra riêng sổ xuất kho của sáu hương án, chỉ đối số mục, người khiêng và dấu giờ, tuyệt đối không hỏi đến đế rỗng. Bản bổ lục được Phó Cẩn ký thêm một lần, Mạnh cô cô và viên cấm vệ cùng đóng dấu giáp lai. Nàng giữ vị trí ấy trong sổ, không giữ nó trong miệng người.

Tiếng khánh ngọc từ phía Vĩnh Ninh bỗng dội qua mái hành lang, ba tiếng ngắn rồi một tiếng dài. Cùng lúc, một nội thị mặc áo tía bước vào Tây khố, hai tay nâng thẻ triệu có tua vàng. “Sắc sứ đã qua Tuyên Đức môn. Tạ chưởng lễ lập tức đến điện nhận chỉ. Sắc phong vừa xong, bệ hạ có chỉ khác ban cho công chúa.” Hai chữ “chỉ khác” khiến gian đối vật im đi. Tạ Uyển hỏi: “Ai giữ Tây khố trong lúc ta vắng?” Nội thị đáp theo lối đã chuẩn bị sẵn: “Giám lễ viện sẽ phái người tiếp quản.” Mạnh cô cô đặt bàn tay lên hòm thứ bảy. “Ta là đồng kiểm đã ký. Muốn đổi người, đem lệnh có tên người nhận đến.” Nội thị nhìn bà, lại nhìn ba bản lời khai vừa niêm, cuối cùng không bước thêm.

Tạ Uyển giao chìa khóa gian đối vật cho Mạnh cô cô bằng hai tay, nhưng không giao dấu chưởng lễ. Nàng dặn Lương Khải khóa sổ xuất nhập theo từng hồi chuông; Phó Cẩn tiếp tục ở phòng đối chứng, mọi câu hỏi mới phải có hai người ghi. Phong bệnh án của Phó Nhạn, mẫu son trong trâm và bản lời khai được chia ba nơi như cũ. Không có thứ gì đi theo nàng ngoài thẻ chức và một mảnh giấy ghi số mục sáu hương án. Khi bước qua cửa Tây khố, nàng nghe then gỗ khép lại sau lưng. Âm thanh ấy không giống bảo vệ một căn phòng; nó giống giữ lại chút thời gian cuối cùng trước khi cả cung chuyển sang một nhịp khác.

Điện Vĩnh Ninh sáng hơn mọi ngày. Đèn cung treo thành hai hàng, hương trầm mới thay, rèm châu đã được kéo lên đủ cao để người nhận chỉ hiện rõ trước án. Chiêu Nghi quỳ ở chính giữa, trên người là lễ phục vừa được sắc phong, lớp áo ngoài nặng đến mức vai nàng dường như mảnh hơn. Tóc nàng cài bộ phượng trâm theo chế mới, không còn chiếc trâm ngọc cũ. Tạ Uyển đứng vào hàng chưởng lễ phía tây. Khoảng cách giữa họ chỉ hơn mười bước, nhưng từ lúc tiếng nhạc thử vang lên, nàng chưa từng được nhìn Chiêu Nghi lâu đến một hơi thở.

Sắc sứ mở cuộn lụa vàng. Lời đầu vẫn là những chữ quen thuộc về tông miếu, biên hòa và đại cục. Đến giữa chiếu, giọng hắn rõ hơn: ba ngày sau, giờ Mão, đoàn hòa thân xuất Chu Tước môn; lễ tế tiễn giá bắt đầu từ đêm trước; quốc thư, ngọc sách và vật tùy giá phải hoàn tất niêm giao trước khi mặt trời lặn ngày hôm nay. Lý do được viết gọn trong bốn chữ “biên tình cấp báo”. Một lịch trình vốn còn có thể giằng co bằng từng lần kiểm mục bị ép lại chỉ còn ba ngày. Tạ Uyển cảm thấy đầu ngón tay dưới tay áo lạnh đi, nhưng mắt nàng vẫn đặt trên mép chiếu, nơi mỗi lần sắc sứ đổi dòng đều có một nhịp dừng rất nhỏ. Không có chữ nào dành cho người phải rời kinh. Chỉ có ngày, cửa, giờ và số lượng xe.

Chiêu Nghi cúi đầu lĩnh chỉ. Khi sắc sứ chuẩn bị cuộn lụa lại, nàng không đứng lên. “Thần nữ có một việc xin ghi vào biên nhận.” Trong điện, vài ánh mắt lập tức đổi hướng. Sắc sứ nói: “Công chúa đã lĩnh thánh ân, còn điều gì chưa rõ?” Chiêu Nghi đáp: “Vật theo giá có quốc thư, ngọc sách và hòm lễ liên quan quốc thể. Thần nữ không dám mang một vật không có tên người niêm, người đối và giờ giao ra khỏi cửa Đại Lương. Xin cho lập minh mục trước khi thần nữ nhận.” Câu nói không chống chỉ, cũng không xin lùi ngày. Nàng chỉ buộc những kẻ muốn đưa vật theo mình phải để lại tên.

Một nội thị của Giám lễ viện bước ra, nói rằng các mục ấy đã có sổ riêng, không cần ghi thêm vào biên nhận công chúa. Chiêu Nghi vẫn quỳ, hai tay đặt ngay ngắn trước gối. “Sổ riêng ở trong cung. Người chịu tiếng mang vật ra ngoài là thần nữ.” Giọng nàng rất nhẹ. “Nếu sau này có một hòm vô danh, triều đình sẽ hỏi người niêm hay hỏi người đã mang qua cửa?” Không ai có thể trả lời rằng công chúa nên mang một vật không rõ trách nhiệm để giữ thể diện cho lễ. Sắc sứ im một lúc rồi ra hiệu cho lục sự thêm một dòng vào biên nhận: toàn bộ quốc thư và vật theo giá phải có minh mục tam kiểm, giao cho chưởng lễ đối trước khi nhập đoàn.

Tạ Uyển không ngẩng đầu, nhưng nàng biết Chiêu Nghi vừa mở cho nàng một cánh cửa bằng chính tư cách người bị đưa đi. Không phải xin cứu, cũng không phải gửi gắm. Nàng ấy tự buộc tên mình vào quy chế để không ai có thể lén đặt thêm một hòm dưới bánh xe rồi gọi đó là đại cục.

Sau lễ, một tập nghi chú mới được đưa tới án phía tây. Tờ đầu ghi ba ngày chuẩn bị; tờ thứ hai là thứ tự tế tiễn; tờ cuối cùng là phiếu niêm quốc thư. Một hộp lụa vàng hẹp được đặt ngoài rèm, chưa giao vào tay Chiêu Nghi, chỉ để chưởng lễ “nhận mục”. Trên nắp hộp có ba dải niêm: Lễ bộ đối văn, Nội Lễ đối mẫu, Hồng Lư tự ngoại niêm. Dấu song vân trên dải giữa được in rõ, nhưng Tạ Uyển không nhìn nó quá lâu. Mẫu son trong trâm đang ở Tây khố; mọi so sánh lúc này chỉ có thể là trí nhớ, chưa đủ để nàng nói một chữ.

Nàng lần xuống các ô giờ. Lễ bộ đối văn vào giờ Thìn. Ô Nội Lễ ghi giờ Tỵ, bên dưới có hai chữ “Mạnh thị”, nhưng dấu đóng cạnh tên lại là dấu vuông của Giám lễ viện, không phải dấu chưởng lễ của Mạnh cô cô. Ô cuối cùng, Hồng Lư tự ngoại niêm, ghi giờ Mão. Tạ Uyển đọc lại từ đầu. Giờ Mão đứng trước giờ Thìn và giờ Tỵ. Nghĩa là niêm ngoài đã được đóng trước khi văn bản được đối, trước cả khi mẫu nội ấn được kiểm. Nếu các giờ là thật, chiếc hộp đã bị niêm rồi lại mở. Nếu các giờ là giả, phiếu niêm đã bị lập khống. Dù theo cách nào, nó cũng chưa thể gọi là tam kiểm.

Nội thị Giám lễ viện đặt bút trước mặt nàng. “Tạ chưởng lễ ký nhận. Ngày xuất giá đã định, không được trì.” Tạ Uyển hỏi: “Ta ký nhận vật hay nhận minh mục?” “Cả hai.” “Công chúa vừa xin đối trước khi nhập đoàn.” Nàng xoay phiếu niêm về phía lục sự. “Ô Nội Lễ không có dấu người đồng kiểm. Thứ tự giờ lại nghịch. Ta chỉ có thể nhận minh mục, chưa thể nhận quốc thư.” Nội thị hạ giọng: “Một sai số giờ không đổi được thánh chỉ.” Tạ Uyển đáp: “Ta không xin đổi thánh chỉ.” Nàng viết dưới dòng nhận: “Đã nhận nghi chú; quốc thư chờ tam kiểm theo thứ tự, chưa nhập đoàn,” rồi đóng dấu chưởng lễ vào đúng phần mình chịu trách nhiệm.

Sắc sứ nhìn nàng, ánh mắt lạnh đi, nhưng dòng Chiêu Nghi vừa buộc ghi còn chưa khô. Muốn ép nàng nhận hộp, họ phải xóa lời của công chúa ngay trên biên nhận trước toàn điện. Cuối cùng, lục sự tách một phó bản phiếu niêm, đóng dấu giáp lai và giao cho nàng. Hộp lụa vàng vẫn nằm ngoài rèm. Ngày xuất giá không đổi; tiếng người trong điện cũng không vì thế mà nhỏ hơn. Nhưng trách nhiệm đã không thể trôi đi như một câu truyền miệng.

Khi Tạ Uyển lui khỏi án, Chiêu Nghi vừa được A Nhiễm đỡ đứng dậy. Hai người không thể nói. Chiêu Nghi chỉ đặt đầu ngón tay lên mép tay áo nơi chiếc trâm cũ từng chạm vào, rồi buông xuống. Tạ Uyển cúi mình đúng lễ, giữ tờ phó bản sát trong tay áo. Nỗi tuyệt vọng vẫn ở đó, nặng như lớp áo sắc phong trên vai người trước mặt. Ba ngày không đủ để cứu một người bằng lời hứa. Nhưng ba ngày có thể đủ để dựng một phản cục nếu mỗi bước đều có tên, giờ và dấu.

Ngoài thềm, khánh ngọc lại ngân. Tạ Uyển mở tờ phó bản dưới bóng cột, nhìn ba ô giờ xếp sai thứ tự. Nàng nhớ điều cũ trong nghi chế tiễn giá: quốc thư có ngoại niêm trước khi hoàn tất đối văn và đối ấn phải phản niêm, lập lại trước ba ty; trong khi chưa thành niêm, nghi trượng không được qua cửa thứ hai. Sắc chỉ đã đến, không ai có thể giả vờ Chiêu Nghi còn nhiều thời gian. Nhưng vật dùng để đưa nàng ra khỏi cung đã phạm đúng một lỗi mà lễ không cho phép bỏ qua.

Tạ Uyển đặt móng tay lên hai chữ “giờ Mão”. Một bước sai giữa đại lễ thường nhỏ đến mức không ai nhìn thấy. Lần này, nó đủ để cả đoàn giá phải dừng lại.