Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 37 - Chương 37: Mạnh Nương Mặc Cả

Lời Mạnh Nương không giống một điều kiện đưa ra cho người mua tin. Nó giống lưỡi dao đặt ngang giữa hai phía, buộc Lục Thanh phải nhìn rõ mình định cứu ai trước. Dưới cầu thang, tiếng người tuần đổi vị trí, đế giày nghiến qua ván gỗ. Phòng Cúc vẫn nằm sau sợi dây niêm mỏng, phòng Lan vừa khóa, còn trời chỉ còn vài canh giờ nữa sẽ sáng. Thanh biết một lời hứa quá rộng có thể biến nàng thành kẻ che giấu án. Một lời từ chối quá sạch lại có thể khiến những cô gái dưới kia bị lôi về nha môn chỉ vì họ từng sống bằng tên khác.

“Ta không hứa sửa lời khai.” Thanh nói. “Cũng không giấu vật chứng có liên quan đến người chết.” Mạnh Nương không chớp mắt. Thanh nói tiếp, từng chữ đều như đặt vào bản nghiệm trạng. “Nhưng tên thật của một người không tự nhiên trở thành vật chứng. Nha môn muốn hỏi ai, phải nói người ấy liên quan chỗ nào, lời khai nào, thời điểm nào. Ta sẽ không để họ gom tất cả tên tuổi trong nhà này thành một tấm lưới rồi kéo đi.” Mạnh Nương cười rất nhạt. “Cô không có ấn quan.” “Bà cũng không có đủ cửa để chống họ đến sáng.” Thanh đáp. “Cho nên chúng ta không đổi luật. Chúng ta buộc họ dùng đúng điều họ đã ghi.”

Mạnh Nương nhìn xuống gian hát. Một cô gái trẻ đang khoác chung áo với người bên cạnh, đôi môi mấp máy gọi tên hoa của nhau để khỏi run. “Nếu trong số họ có người thật sự biết kẻ chết thì sao?” bà hỏi. “Người đó phải khai.” “Tên thật cũng phải khai?” “Nếu tên thật giải thích được vì sao hung thủ tìm tới nàng, phải ghi. Nếu không, chỉ ghi tên nàng đang dùng và cách liên hệ.” Thanh dừng một nhịp. “Ta không thể hứa không ai phải trả giá. Ta chỉ hứa cái giá ấy không bị đẩy sang người không liên quan.” Ánh mắt Mạnh Nương chậm rãi trở lại gương mặt nàng. Lần đầu từ lúc mặc cả, vẻ sắc lạnh trong đó bớt đi một phần.

“Vậy cô xuống nói với phường trưởng.” Mạnh Nương bảo. “Trước mặt tất cả.” Thanh gật đầu. Bà muốn một lời đủ nhiều người nghe để sáng mai quan nha môn không thể dễ dàng biến nó thành cuộc trao đổi riêng. Cả hai đi xuống cầu thang. Người dẫn tuần lập tức bước tới, nhưng phường trưởng giơ tay ngăn. Hộp gỗ đựng giấy hộ tịch trắng đã đặt trên quầy, hai sợi dây buộc chéo và giọt sáp còn ấm. Chính vật ấy cho Thanh một lý do mà người giữ phường không thể xem nhẹ.

“Từ giờ đến khi nha môn tiếp nhận,” Thanh nói, “không hỏi riêng tên thật của người trong quán, không tách ai khỏi gian chung nếu chưa có lời khai trực tiếp liên quan đến phòng Lan hoặc phòng Cúc. Ghi tên họ đang dùng, vị trí lúc trước canh ba và người có thể đối chứng.” Người dẫn tuần bật cười. “Cô lấy quyền gì ra lệnh?” Thanh chỉ vào hộp gỗ. “Một tờ hộ tịch đã đóng dấu nhưng chưa điền tên vừa xuất hiện trong áo người chết. Hung thủ hoặc đồng bọn có thể vẫn ở quanh đây. Nếu ông gom tên thật, quê quán và thân thuộc của tất cả phụ nữ trong nhà này vào một tờ giấy rồi để thất lạc, ông đang đưa cho kẻ đó đúng thứ cần để điền vào mẫu trắng.”

Nụ cười trên mặt người dẫn tuần tắt hẳn. Phường trưởng nhìn hộp niêm, rồi nhìn những cô gái dưới chân tường. Ông không thương họ đến mức liều chức, nhưng cũng không muốn sáng mai phải giải thích vì sao một danh sách hộ tịch mới bị sao chép ngay trong đêm có vật chứng giấy trắng. “Ghi tên dùng trong quán, giờ giấc và người đối chứng.” ông quyết định. “Ai có liên quan trực tiếp thì để riêng sau, phải có hai người chứng kiến. Không ai rời nhà.” Mạnh Nương hỏi: “Không khám phòng riêng?” “Chỉ khám khi có dấu vết dẫn tới đó.” Thanh thêm. Phường trưởng do dự, cuối cùng sai người viết rõ câu ấy vào cuối tờ ghi đêm, rồi đóng dấu phường bên cạnh. Nó không phải tấm khiên vĩnh viễn, nhưng đủ để mọi bàn tay muốn vượt qua phải để lại dấu.

Việc ghi lời bắt đầu ngay dưới ánh đèn. Mạnh Nương tự gọi từng tên hoa, không ai được chen tên thật của người khác. Thanh đứng cạnh quầy, nghe giờ giấc khớp dần quanh khoảng Lan rời phòng. Sáu người xác nhận Lan bị giữ dưới tầng dưới vì cửa trước có tuần, trong đó hai người không thuộc Lưu Hương. Điều ấy chưa xóa Lan khỏi nghi vấn, nhưng làm khoảng thời gian hung thủ hành động hẹp hơn. Một cô gái khác khai đã nghe chân ghế kéo trên phòng Lan trước khi Lan xuống lấy rượu; âm thanh chỉ có một lần, không có tiếng vật lộn. Thanh ghi chi tiết vào trí nhớ. Kẻ siết dây có thể đã ở sẵn sau rèm hoặc vào bằng lối mà người trong phòng không xem là nguy hiểm.

Khi lượt ghi tên tạm dừng, Mạnh Nương mới nói đủ nhỏ cho Thanh nghe: “Chiếc chìa khóa cần được thử trước mặt phường trưởng. Ta không muốn sáng mai họ nói ta tự đưa cô vào chỗ giấu đồ.” Thanh nhìn bà. “Nó mở thứ trong quán?” “Mở một cái khóa đã có trước khi ta làm chủ nơi này.” Mạnh Nương kéo thẳng tay áo, che lại vết sẹo trên cổ tay. “Và loại giấy trắng kia không mua bằng bạc. Muốn lấy một tờ, phải giao cho họ một món nợ có đủ tên cũ, quê cũ và người có thể xác nhận cô gái ấy từng tồn tại. Bạc chỉ trả cho người cầm bút. Cái họ thực sự lấy là đường quay về.”

Thanh cảm thấy đầu ngón tay mình lạnh hơn. Một tờ giấy trắng không chỉ tạo ra tên mới; nó cần nuốt mất tên cũ để không ai lần ngược được. Cúc mang thẻ gỗ của một người đã chết. Vị khách mang giấy chưa có tên. Giữa hai vật ấy là một khoảng trống đủ rộng để giấu hàng chục đời người. “Món nợ đó ở đâu?” nàng hỏi. “Nếu cô giữ đúng lời vừa nói, ta sẽ cho cô thấy.” “Ta giữ quy trình, không giữ tội.” “Ta biết.” Mạnh Nương đáp. “Đó là lý do ta vẫn còn đứng đây.”

Phường trưởng được gọi lên gian sổ phía sau quầy. Ông mang theo chìa khóa ngắn đã bọc trong khăn, cùng một người tuần và người ghi lời làm chứng. Căn phòng nhỏ chỉ có bàn tính, hai hòm rượu rỗng và giá giấy ghi tiền khách. Mạnh Nương không chạm vào bất cứ thứ gì. Bà chỉ vào chiếc bàn tính gỗ đen gắn sát tường. “Nhấc thanh đáy thứ ba.” Người tuần làm theo. Một đường ghép hiện ra dưới lớp bụi, để lộ lỗ khóa nhỏ không có vành đồng. Chìa khóa từ áo người chết vừa khít đến mức không cần xoay thử lần thứ hai.

Tiếng bật khóa khô và ngắn khiến tất cả cùng im lặng. Phường trưởng lập tức nhìn Mạnh Nương. “Bà nói khóa này có từ trước?” “Từ đời chủ cũ.” bà đáp. “Ta giữ nó vì những giấy nợ trong đó từng là dây trói. Sau này ta dùng chính chúng để biết ai đã bị bán qua tay nào.” “Vậy người chết có chìa khóa của chỗ bà giấu sổ.” Người dẫn tuần nói, giọng đã có ý buộc tội. “Hoặc kẻ sai hắn đến có chìa khóa.” Thanh cúi nhìn mặt ổ. Mép gỗ có một vết xước mới, nhưng bụi ở rãnh ngoài vẫn nguyên. Chìa khóa đã được mang tới, song chưa kịp dùng. Vị khách chết trước khi mở được ngăn này.

Thanh yêu cầu mọi người đổi vị trí để ai cũng nhìn thấy tay Mạnh Nương. Phường trưởng tự kéo ngăn bí mật ra. Bên trong không có bạc, không có khế nhà hay đồ trang sức, chỉ có một bọc vải dầu đã sẫm màu và một thẻ tre mỏng bị cắt mất nửa đầu. Mạnh Nương không với lấy. “Mở đi.” bà nói. “Từ lúc chiếc chìa khóa xuất hiện trên xác người, thứ ấy không còn chỉ là bí mật của ta.” Phường trưởng tháo dây bọc. Một cuốn sổ mỏng lộ ra, gáy khâu bằng chỉ xanh, bìa không đề tên. Mép giấy có chỗ mới bị lật, để lại một vệt sạch giữa lớp bụi cũ.

Người ghi lời đặt đèn gần hơn. Trang đầu không có cột tiền vào, tiền ra hay lãi tháng như sổ kỹ quán. Thay vào đó là những hàng chữ chia làm bốn ô: tên hoa, ngày đến, tên cũ, ngày chết. Có dòng viết mực đen, có dòng được chấm thêm một nét đỏ ở cuối. Vài ô tên cũ bị để trống; vài ô ngày chết lại ghi sớm hơn ngày đến Lưu Hương. Phường trưởng đọc được hai hàng thì sắc mặt đổi. “Đây là sổ gì?” Mạnh Nương nhìn cuốn sổ như nhìn một căn phòng đã khóa nhiều năm. “Sổ nợ.” bà nói. “Chỉ là món nợ trong đó chưa bao giờ ghi bằng tiền.”

Ngay lúc ấy, ngoài đầu ngõ vang lên tiếng vó ngựa dừng gấp. Một người tuần dưới cửa gọi vọng rằng đèn nha môn đã qua cầu Nhạn. Thanh đặt tay lên mép bàn, không chạm vào sổ. Trời chưa sáng, nhưng những người đến nhận án đã tới sớm hơn dự tính. Trước mặt nàng là danh sách những cái tên có thể cứu người hoặc giết họ lần nữa; sau lưng là tờ ghi tạm chỉ đủ giữ cánh cửa trong một đêm. Mạnh Nương khẽ nói: “Bây giờ mới đến phần cô phải chọn cách nói thật.”