Chương 29 - Chương 29: Lời Thầy Muộn
Người nói thật quá muộn thường không còn quyền chọn người nghe sẽ đau đến đâu. Lục Thanh hiểu điều ấy khi đứng trước cánh cửa gỗ nhà Chu Hoài Sinh, nghe bên trong vang lên tiếng đá mài kéo chậm dưới một lưỡi dao. Trời chưa sáng hẳn. Sương canh đọng trên mái hiên, lạnh như lớp nước nàng vẫn dùng để rửa tay sau mỗi lần nghiệm thi. Phía sau nàng, nha môn còn giữ Đỗ Mạnh, nhà lao còn một người sống yếu đến mức chỉ đủ cất một câu. Nàng không có thời gian để hỏi vòng, nhưng càng không thể biến nghi ngờ thành tội chỉ vì bốn chữ mờ đã chạm đúng vết thương của mình.
Nàng gõ ba tiếng. Tiếng mài dừng lại sau tiếng thứ hai, đến tiếng thứ ba mới có then cửa chuyển động. Chu Hoài Sinh mở cửa trong áo vải cũ, mái tóc bạc buộc thấp, mắt không hề có vẻ vừa tỉnh ngủ. Trên bàn sau lưng ông, ngọn đèn đã cháy gần hết một đoạn tim. Con dao mỏng đặt cạnh hòn đá mài là dao tách lớp giấy, không phải dao nghiệm thi. Ông nhìn áo nàng còn dính bụi kho án rồi nói: “Con đến sớm hơn ta tưởng.”
Câu ấy khiến bàn tay Thanh lạnh thêm. “Thầy biết con sẽ đến?” Chu Hoài Sinh đáp rằng Trịnh Bỉnh đã niêm kho, trước sáng cả phố sẽ biết. Thanh không bước qua ngạch cửa. “Con không hỏi chuyện niêm kho. Con hỏi vì sao thầy biết con sẽ tìm thầy.” Ông im lặng rồi nghiêng người nhường cửa. Nàng bước vào, tự khép cửa nhưng không gài then. Chính ông từng dạy rằng khi đối chất, phải để người bị hỏi còn thấy đường lui; kẻ bị dồn kín quá sớm chỉ học cách đập vỡ mọi thứ trong tay.
Chu Hoài Sinh rót trà. Chén thứ hai được đặt trước mặt nàng, nước đã nguội, có nghĩa ông chuẩn bị nó từ trước khi nàng gõ cửa. Thanh không chạm vào chén. “Trong rãnh dao của bàn kho án có một mảnh giấy thuộc năm Lục Vãn chết. Trên đó còn bốn chữ: ‘ngỗ tác… Hoài Sinh’.” Bàn tay cầm ấm của ông dừng rất nhẹ rồi đặt xuống. “Nhiều năm ta làm ngỗ tác. Tên ta nằm trong hồ sơ cũ không lạ.”
“Lạ ở cách ghi.” Thanh nhìn thẳng ông. “Bản nghiệm chính của nha môn ghi chức trước, họ tên sau, dưới cùng mới đóng dấu người lập. Chỉ bản ghi sơ tại phòng nghiệm mới để hai chữ ‘ngỗ tác’ sát tên người xem xác, bởi khi ấy chưa biết ai sẽ chịu ký bản cuối. Mảnh giấy bị cạo nằm trong bàn dùng sửa chữ, không nằm trong hòm hồ sơ đã đóng.” Chu Hoài Sinh nói nàng chỉ thấy vài nét dưới ánh đèn. Thanh đọc chậm số án đã nhìn được. “Năm ấy chỉ có một vụ nữ tử họ Lục được đưa vào phòng nghiệm cuối canh tư. Nếu thầy nói đó là hồ sơ khác, hãy nói tên người chết.”
Ngoài ngõ có tiếng xe hàng lăn qua rồi xa dần. Chu Hoài Sinh không nói được một cái tên khác. Ông quay sang bếp than, dùng kẹp gắp một cục than đã tàn ra khỏi tro, như thể xếp lại những thứ nguội lạnh có thể trì hoãn câu trả lời. Thanh hỏi: “Thầy từng nói chỉ nhìn thấy bản nghiệm của tỷ tỷ sau khi án đã đóng. Đó là lời thật hay lời thầy muốn con sống cùng?” Lưng ông khựng lại. Một lúc sau, ông mới nói: “Ta có mặt trước khi án đóng.”
Câu thú nhận ngắn đến mức không chứa nổi những năm nàng đã tin. Thanh nghe mạch mình đập trong tai, nhưng giọng vẫn đều. “Thầy nhìn thấy gì?” Ông đáp không đủ để kết luận tự vẫn. Nàng chỉ nói: “Cụ thể.” Chu Hoài Sinh siết kẹp than. “Vết siết không đều. Điểm hằn sau gáy thấp hơn cách treo thường gặp. Hai cổ tay có dấu ép mảnh, đã được xoa thuốc để làm nhạt. Dưới móng tay trái có sợi tơ màu tối, nhưng áo nàng mặc khi đưa đến là vải thô sáng màu.”
Những chi tiết ấy không nằm trong bản nghiệm Thanh từng đọc. Nàng khi ấy còn là học việc, bị đuổi ra ngoài sau khi nhận ra nút dây có chỗ thắt lạ. Nàng đã tưởng mình nhớ sai vì đau. Hóa ra có một người khác cũng nhìn thấy, còn nhìn thấy nhiều hơn. “Thầy đã viết lại?” Chu Hoài Sinh đáp ông từng viết một bản sơ. Khi nàng hỏi nó ở đâu, ông không trả lời.
Thanh nhìn quanh căn phòng quen thuộc: tủ thuốc sứt góc, hộp kim, bó thẻ tre, chiếc hòm dụng cụ ông từng bắt nàng lau đến khi không còn mùi sắt. Con dao tách giấy trên bàn vừa được mài, nhưng không có giấy mới. Bên mép hộp dụng cụ là một đường hồ cũ chồng nhiều lớp, dấu của một ngăn kín từng được mở rồi dán lại. Nàng không bước đến. “Thầy vẫn giữ.” Ông đặt kẹp than xuống. “Đừng đoán bằng tình thân.” Thanh đáp: “Con không đoán. Nếu trong ngăn đó không phải bản sơ, thầy có thể nói là gì.”
“Con học quá kỹ.”
“Thầy dạy con.”
Lời ấy làm căn phòng im hẳn. Chu Hoài Sinh kéo hộp dụng cụ lại nhưng không mở. “Ta giữ một tờ. Không phải bản hoàn chỉnh, không có dấu nha môn, chỉ có những điều mắt ta thấy trước khi người ta mang xác đi.” Thanh hỏi vì sao không nộp. Ông nhìn vết chai trên tay mình. “Ta đã nộp. Bản ta nộp bị trả lại, có thêm hai chữ ‘tự vẫn’ ở đầu và bớt đi dấu cổ tay ở cuối. Người mang nó đến nói đó là cách viết đúng để khỏi kéo một việc nhỏ thành chuyện lớn.”
“Trịnh Bỉnh?”
“Lúc đó hắn chưa đủ quyền chạm vào án ấy.”
“Hình bộ?”
Ông không phủ nhận. Thanh nghe trong đầu tiếng giấy bị lưỡi dao cạo qua, mỏng và khô. “Ai?” Chu Hoài Sinh đứng dậy, đi tới cửa sổ nhưng không mở. Trên song gỗ, ánh sáng đầu ngày mới chỉ là một vệt xám. “Có những cái tên nói ra không làm người chết sống lại, chỉ khiến người sống chết nhanh hơn.”
“Tạ Văn Nhai đang ở nhà lao. Đỗ Mạnh bị tạm giữ. Một người đã chết mà chưa được nghiệm, còn bản sửa số phận của họ được viết trước.” Thanh dừng một nhịp để không cho giận dữ đi trước lời. “Thầy im lặng năm ấy không làm chuyện ấy dừng lại. Con không đến xin thầy cứu tỷ tỷ. Con đến hỏi thầy có tiếp tục giúp họ viết người sống thành người chết hay không.”
Chu Hoài Sinh quay lại. Trong mắt ông không có tức giận, chỉ có vẻ mệt mỏi của người đã giữ một cánh cửa quá lâu đến mức quên mình đứng phía nào. “Người trả bản nghiệm cho ta khi ấy là một chủ sự trẻ của Hình bộ. Áo hắn không dính bụi phòng nghiệm, móng tay sạch, mùi đàn hương trên tay áo át cả mùi thuốc xoa xác. Hắn đọc từng dòng ta viết rồi hỏi ta có chắc muốn một đứa học việc mang họ Lục tiếp tục làm nghề hay không.”
Đầu ngón tay Thanh tê đi. “Tên hắn.” Chu Hoài Sinh nhìn nàng, lần đầu không né. “Từ Kính.”
Tên ấy rơi xuống giữa hai người nhẹ hơn một đồng tiền, nhưng sức nặng đủ kéo mọi dấu mực cũ về cùng một chỗ. Thanh từng nghe tên Hữu thị lang Hình bộ trong những lời người khác hạ giọng, từng thấy cấp dưới của ông ta ở rìa nhiều hồ sơ, nhưng chưa ai đặt ông ta trực tiếp vào phòng nghiệm của Lục Vãn. “Ông ta đe dọa con?”
“Ông ta không cần nói chữ giết.” Chu Hoài Sinh đáp. “Chỉ hỏi ngày nào con đi qua nghĩa trang, ở y quán nào, tối ngủ gian nào. Người biết đủ những việc ấy không cần rút dao.” Thanh hỏi vậy ông chọn im lặng. Ông nói: “Ta chọn giữ lại một người còn thở.” Nàng đáp: “Bằng cách để một người đã chết mang tiếng tự vẫn.” Ông nhắm mắt. “Phải.”
Thanh muốn hỏi người còn thở ấy có phải nàng không, nhưng câu trả lời đã hiện quá rõ trong cách ông tránh gọi tên. Nàng không thấy biết ơn. Sự bảo vệ ấy giống một bàn tay bịt miệng đặt lên cả người chết lẫn người sống, để nàng lớn lên trong một lời sai mà tưởng đó là phần yếu kém của chính mình. “Thầy không có quyền chọn thay tỷ tỷ.” Ông nói ông biết. “Thầy cũng không có quyền bắt con mang món nợ được sống này.” Ông vẫn chỉ đáp: “Ta biết.” Hai chữ ấy đến quá muộn.
Thanh đứng dậy. “Con chưa tha thứ. Cũng chưa kết thầy là đồng phạm. Muốn phân biệt hai việc đó, con cần xem bản sơ.” Chu Hoài Sinh đặt tay lên hộp dụng cụ. “Con không được mang nó đi.” Không đợi nàng phản bác, ông nói tiếp: “Một tờ giấy không dấu, giấu nhiều năm trong nhà thầy mình, nếu nằm trong tay con sẽ chỉ cần một câu hỏi để mất sạch giá trị: ai viết, viết khi nào, vì sao không có sổ giao nhận. Trịnh Bỉnh sẽ gọi đó là lời hai thầy trò bịa ra để trả thù. Bản sơ chứng minh mắt ta từng thấy gì, nhưng chưa tự chứng minh được nó đã tồn tại từ năm ấy.”
Lập luận ấy đúng, và vì đúng nên càng đau. Thanh nhìn hộp gỗ. “Phải tìm thứ đối chiếu tuổi giấy, mực hoặc dấu nhận từng đi cùng nó.” Chu Hoài Sinh gật đầu. “Hoặc buộc người đã sửa bản chính lộ thứ tự đóng dấu. Người ta có thể đổi câu chữ, nhưng thường quên rằng ấn quan, dấu nhận án và ngày vào sổ không phải lúc nào cũng đi theo cùng một bàn tay.” Đó là lần đầu từ khi nàng đến, giọng ông trở lại giống người thầy từng đứng sau lưng nàng trong phòng nghiệm, không phải để xin tha mà để chỉ một đường chứng minh không dựa vào lòng tin.
Tiếng gõ cửa vang lên đúng lúc ấy, gấp và nặng hơn tiếng nàng đã gõ. Chu Hoài Sinh không giấu hộp, chỉ đẩy nó về vị trí cũ. Thanh đứng lệch sang bên khi ông mở cửa. Một nha sai đặt xuống tờ lệnh có ấn Trịnh Bỉnh, yêu cầu Chu Hoài Sinh và Lục Thanh giữa giờ Ngọ phải có mặt ở công đường, mang theo “mọi bản ghi riêng liên quan án Lục Vãn” để đối chất việc ngụy tạo hồ sơ cũ. Dòng cuối ghi Đỗ Mạnh sẽ được đưa ra với tư cách người liên can.
Nha sai đi rồi, Thanh đọc lại bốn chữ “mọi bản ghi riêng”. Không ai ở kho án biết chắc Chu Hoài Sinh còn giữ bản sơ. Nàng mới hỏi ông chưa đầy một khắc, cửa vẫn đóng, vậy mà tờ lệnh đã gọi đúng thứ Trịnh Bỉnh cần họ tự tay đem đến. Chu Hoài Sinh gập lệnh theo nếp ấn, giọng khàn đi. “Hắn không muốn lục nhà ta để lấy tờ giấy.” Thanh nhìn dấu son còn ướt ở mép lệnh. “Hắn muốn chúng ta mang nó qua cửa công đường.” Ông nhìn hộp dụng cụ rồi nhìn nàng. “Và khi nó nằm trong tay con, hắn sẽ bảo đó là chứng cứ con vừa làm ra.”
